Lịch
sử cận đại của Ukraine nhân cuộc xâm lược của Putin
J.B. Đặng Minh An dịch
24/Feb/2022
Nhân cuộc
khủng hoảng chính trị đang diễn ra tại Ukraine, VietCatholic xin giới thiệu bản
dịch bài Lịch Sử của đất nước Ukraine của Andrew
Gregovich, giáo sư sử học Ukraine.
Ukraine
ngày nay là một quốc gia có diện tích 603,700 km vuông (lớn gần bằng tiểu bang
Texas - Hoa Kỳ) với dân số là 43,745,640 (theo thống kê vào tháng 7 năm 2021).
Phía Ðông và Ðông Bắc giáp Nga, phía Bắc giáp Belarus., phía Tây giáp Ba Lan,
Slovakia và Hung Gia Lợi, phía Nam giáp Rumani.
Trước thế
chiến thứ nhất
Trên vùng
đất Ukraine ngày nay và một phần rộng lớn của nước Nga, vào thế kỷ thứ 9 sử sách đã ghi lại sự tồn tại của vương quốc
Kyivan-Rus với thủ đô là Kiev. Năm 988, Ðại Ðế Volodymyr đã ra sắc
lệnh công nhận Kitô Giáo là quốc giáo của vương quốc Kyivan-Rus.
Kiev
được coi là thành phố Mẹ của tất cả các thành phố của Nga trong thế kỷ 11 và
thế kỷ 12. Vào thế kỷ 12, người Nga dần tách khỏi Ukraine và hình thành một
quốc gia riêng. Ðến thế kỷ
thứ 13, phần phía Ðông của vương quốc bị xâm lược bởi quân Mông Cổ và bị tàn
phá rất nặng nề. Phần phía Tây của vương quốc, mà quan trọng nhất là khu vực
Galicia – được hình thành vào thế kỷ thứ 12, may mắn không bị tàn phá. Tuy
nhiên, trong thế kỷ 14, Ukraine suy yếu đi rất nhiều. Do đó, phần phía Tây
Ukraine bị Ba Lan xâm chiếm và sáp nhập vào Ba Lan.
Thấy
Ba Lan xâm chiếm Ukraine dễ dàng, các nước khác cũng nhào vào xâu xé Ukraine.
Lithuanie xâm chiếm miền Volhynia và Nga xâm chiếm nhiều vùng phía Bắc và phía
Ðông của Ukraine. Người Lithuanie, sau đó, lại bị Ba Lan đánh bại và sáp nhập
vào Ba Lan. Năm 1667, phần phía Ðông của sông Dnepr bị cắt nhường cho Nga và
đến năm 1793 thì toàn bộ Ukraine (trừ ra miền Galicia thuộc về Ðế Quốc Áo từ
năm 1772) bị sáp nhập vào Ðế Quốc Nga.
Trong thế
kỷ thứ 19, một số cuộc chiến khác lại xảy ra để chia lại Ukraine. Trước thế
chiến thứ nhất, Ukraine bị chia làm 3 phần: Miền Galicia và Bukovyna thuộc Ðế
Quốc Áo, miền Carpatho-Ukraine thuộc về Hung và các miền còn lại thuộc Nga.
Trong các miền thuộc Áo-Hung, người Ukraine được giữ bản sắc, phong tục, tập
quán của riêng mình. Các phong trào quốc gia đòi độc lập hoạt động rất sôi nổi.
Còn trong các phần thuộc Nga, người Nga luôn cố gắng
đồng hóa người Ukraine để duy trì sự chiếm đóng lâu dài.
Trong cuộc
thế chiến thứ nhất
Khi
thế chiến thứ nhất nổ ra, người Ukraine lãnh đủ những thàm họa: Trước hết,
trong các miền thuộc Nga, quân Nga bắt rất nhiều người Ukraine để diệt trừ mối
lo người Ukraine nổi dậy dành độc lập. Những người bị bắt lớp bị hành quyết,
lớp bị đầy sang Siberia. Trong khi đó, quân Áo đang thua trận cũng xử tử hàng
loạt người Ukraine vì nghi họ có cảm tình và giúp đỡ người Nga. Khi quân Nga
chiếm được miền Tây Ukraine vào tháng 9/1914, họ lập tức bắt đầu ngay một cuộc
lùng bắt quy mô tất cả những nhân vật có ảnh hưởng trong dân chúng: chính trị
gia, luật sư, nhà văn, giáo viên và tất cả những ai bị nghi ngờ dính líu vào
các tổ chức quốc gia Ukraine đều bị bắt và bị lưu đày sang Siberia. Tương tự
các trại «học tập cải tạo»
của VC.
Tháng
1/1915, quân Áo phản công và đánh bật quân Nga khỏi miền Tây Ukraine. Lịch sử
cận đại của Ukraine nhân cuộc xâm lược của Putin
Tháng
1/1915, quân Áo phản công và đánh bật quân Nga khỏi miền Tây Ukraine. Ðể mua
chuộc lòng dân Ukraine, người Áo cho người Ukraine được hưởng nhiều quyền lợi
hơn trước. Tuy nhiên, các phong trào du kích Ukraine vẫn hoạt động mạnh vì họ
muốn hoàn toàn độc lập.
Tại Nga,
tháng 3 năm 1917, chính phủ lâm thời của Alexander Kerensky được thành lập.
Chính phủ này đưa ra nhiều cải cách dân chủ và cởi bỏ một số hạn chế cho người
Ukraine. Các tù nhân Ukraine lưu đầy tại Siberia được trở về nguyên quán. Tháng
4/1917, người Ukraine được hưởng quy chế tự trị thông qua ủy ban lãnh đạo trung
ương Roda.
Chẳng may,
ngày 7/11/1917, chính quyền lâm thời bị lật đổ bởi những người cộng sản Nga.
Ngày 20/11/1917, ủy ban lãnh đạo trung ương Roda tuyên bố không công nhận chính
quyền cộng sản Nga và tuyên bố thành lập quốc gia Ukraine Cộng
Hòa. Tuy nhiên, những người
cộng sản Ukraine đã hợp tác với cộng sản Nga tiến quân đánh Kiev. Ngày
22/1/1918, chính phủ Roda tuyên bố Ukraine hoàn toàn độc lập khỏi Nga nhưng nền
độc lập này chỉ kéo dài được vài ngày thì Kiev thất thủ trước sức tấn công của
hồng quân Nga và Ukraine.
Tháng
3/1918, chính phủ Roda được sự giúp đỡ của quân Ðức Áo phản công chiếm lại được
Kiev. Chỉ hơn một thánh sau, ngày 29/4/1918, chính phủ dân chủ non trẻ Roda lại
bị tướng Pavlo Skoropadskyi lật đổ trong một cuộc chính biến được người Ðức ủng
hộ. Tháng 11, tướng Pavlo Skoropadskyi lại bị áp lực tuyên bố từ chức và quyền
hành rơi vào tay Volodymyr Vynnychenko.
Ở phần phía
Tây, tháng 10/1918, các nhà chính trị theo xu hướng quốc gia cũng tuyên bố
thành lập Nước Cộng Hòa Tây Ukraine gồm miền Ðông Galicia, phía Tây Wolhynia và
phía Bắc Bukovyna. Ngày 1/11/1918, quân Tây Ukraine tấn công Lviv gây ra chiến
tranh với Ba Lan vì Ba Lan vẫn coi miền Tây Galicia là thuộc Ba Lan. Ngày
21/11/1918, quân Ba Lan chiếm lại được Lviv, trong khi đó Rumani cũng nhào vào
chiếm vùng Bukovyna phía Nam. Trước tình thế đó, để gây sức mạnh đoàn kết toàn
dân, ngày 22/1/1919, chính phủ Tây Ukraine do Evhen Petrushevych lãnh đạo tại
Stanyslaviv và chính phủ Ðông Ukraine của Volodymyr Vynnychenko tuyên bố hợp
nhất hai phần. Tuy nhiên, việc hợp nhất chưa thành công thì Ba Lan đã tấn công
và chiếm trọn miền Galicia vào tháng 7/1919.
Ở phần phía
Ðông, đầu tháng 2/1919, Symeon Petlura trở thành chủ tịch ủy ban hành pháp
trung ương, kiêm tham mưu trưởng quân đội. Ông phải bảo vệ nước Cộng Hoà
Ukraine non trẻ khỏi đủ loại kẻ thù từ cộng sản Ukraine, Hoàng Gia Nga đến các
sư đoàn Bạch Nga được Anh, Pháp và Hoa Kỳ yểm trợ. Cuối tháng 2/1919, Kiev lại
rơi vào tay hồng quân Nga và cộng sản Ukraine. Ngày 31/8/1919, quân Bạch Nga
của tướng Denkin lại tái chiếm Kiev và giữ được cho đến ngày 16/12 thì bị hồng
quân Nga đánh bật ra. Petlura chạy sang Ba Lan cầu cứu và ký hiệp định thư với
Ba Lan không đòi lại đất miền Galicia và Wolhynia để đổi lấy trợ giúp quân sự
của Ba Lan.
Quân Ba Lan
chiếm Kiev ngày 6/5/1920. Tuy nhiên, Nga tổng động viên và phản công đánh bật
quân Ba Lan ra khỏi Kiev. Thừa thắng, quân Nga tấn công tràn vào Ba Lan đến tận
ngoại ô thủ đô Warsaw. Ba Lan phải ký hiệp ước với Nga (hiệp ước Riga). Hậu
quả, Ukraine bị chia thành 4 miền: Bukovyna dành cho Rumani, Transcarpatia dành
cho Tiệp, Ðông Galicia và Tây Volhynia dành cho Ba Lan, phần còn lại dành tất
cả cho Nga. Trong vùng chiếm đóng của Nga, cộng sản Nga
dựng lên nước Ukraine Sô Viết và trao cho đảng cộng sản Ukraine – gọi tắt là
CPU – lãnh đạo để thưởng công cho họ.
Bắt đầu
sáng mắt ra
Ban đầu
cộng sản Nga dành cho CPU nhiều quyền hành và có vẻ như họ đang điều hành chính
quyền của một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau, năm 1921, quyền
hành của CPU thu hẹp trong phạm vi đối nội mà thôi: Tất cả các vấn đề đối ngoại
đều do Mạc Tư Khoa quyết định. Nham hiểm hơn, CPU bị biến dần thành một xứ bộ
trong đảng cộng sản Nga. Tất cả đảng viên đảng cộng sản Ukraine cũng đồng thời
là đảng viên đảng cộng sản Nga và phải thi hành những mệnh lệnh do Mạc Tư Khoa
ban xuống. Nhiều đảng viên cộng sản nhưng có đầu óc quốc gia như Mykola
Skrypnyk bị «đình chỉ
công tác», «kiểm thảo»,
«hạ tầng
công tác», «cho đi mò
tôm» hoặc đưa đi đầy sang Siberia.
Trong
con mắt người Nga, người Ukraine là những người ngây thơ dễ bị lừa. Lênin
thường phong tặng cho các cá nhân trong CPU những danh hiệu «anh
hùng» và đặt
vào tay họ nhiều chính sách mà cộng sản Nga muốn thăm dò thực nghiệm trên đất
Ukraine trước khi áp dụng đại trà ở Nga.
Thí nghiệm
thứ nhất xảy ra cuối năm 1920: Trong một sớm, một chiều tất cả xí nghiệp tại
Ukraine bị quốc hữu hóa và tất cả sản phẩm nông nghiệp đều bị thu mua với giá
ăn cướp của dân. Chỉ với hai chính sách này thôi đã gây
ra nạn đói 1921-1922 cướp đi hơn một triệu sinh mạng dân Ukraine. Nga lại lật
đật sửa sai bằng cách trả lại cho tư nhân các xí nghiệp và cho nông dân buôn
bán sản phẩm do họ làm ra.
Ngày
30/12/1922, Liên Bang Sô Viết ra đời bao gồm Nga, Ukraine, Belarus, Georgia,
Armenia, Azerbaidzhan. Các nước khác dần dần được sáp nhập vào sau đó. Trong
thời kỳ đầu của Liên Bang Sô Viết, để người dân không bị «sốc»
và để đánh lừa những người theo chủ nghĩa quốc gia, Nga đã để cho các nước
tương đối dễ thở về vấn đề văn hóa. Trong giai đoạn này, đâu đâu cũng nghe nói «Ukraine hóa»
như Ukraine hóa giáo dục, Ukraine hóa kiến trúc, văn hóa... và cả Giáo Hội
Chính Thống Giáo Tự Trị (khỏi Mạc Tư Khoa) cũng được thành lập.
Tuy nhiên, «ngày vui ngắn chẳng đầy gang»,
năm 1925, Nga cử Lazar Kaganovich làm bí thư CPU để uốn dân Ukraine quay trở
lại con đường đồng hóa với Nga. Bộ trưởng giáo dục Oleksander Shumskyi, «tên theo chủ nghĩa quốc gia
hẹp hòi – mất lập trường quốc tế vô sản» bị cho đi
học tập cải tạo mút mùa ở Siberia. Khwylovyi, nhân vật số 2 trong guồng máy
lãnh đạo đảng, văn hào, tác giả cuốn «Away from Moscow – Thoát khỏi Mạc Tư Khoa»
bị «nghiêm khắc
cảnh cáo».
Năm 1928,
Stalin lên nắm quyền. Kaganovich bị gọi về Mạc Tư Khoa và Stanislav Kosior được
cử làm tổng bí thư CPU. Stalin lại thí nghiệm chính
sách kinh tế ngũ niên tại Ukraine với việc đấu tố «kuklaks» (địa chủ), trí thức và các nhà tu hành, đặc biệt
những giáo sĩ tham gia Giáo Hội Chính Thống Giáo Ukraine tự trị. Hàng triệu gia
đình bị giết hoặc đày đi Siberia.
Văn hào cộng sản Khwylovyi từng một thời ca tụng chế
độ, sáng mắt ra, uống thuốc độc tự tử chết. Nông thôn trở thành nơi
tang tóc với hàng loạt những vụ xử tử những kuklaks. Trong bối cảnh đó, lòng
dân không yên tâm sản xuất cộng với hàng loạt những chỉ thị ngu xuẩn và vô lý
đã dẫn đến mất mùa ở một số nơi. Tuy nhiên nạn đói
1932-1933 cướp đi sinh mạng 7 triệu người Ukraine không phải do thiếu lương thực
nhưng chính vì cộng sản đã thu gom tất cả nông sản và chứa vào những kho lớn do
quân đội canh gác. Dân chúng bị bỏ cho chết đói như một phần của cuộc
thanh trừng và diệt chủng kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại. Sau nạn đói, Stalin lập tức lùa dân Nga sang để tái phối trí
lại dân số trên các ruộng vườn hoang tàn của Ukraine. Ðây cũng là một phần trong kế sách thống trị Ukraine về lâu
về dài. Năm 1933, Mykola Skrypnyk, lãnh tụ tiền phong của cộng sản Ukraine,
sáng mắt ra, tự tử chết.
Sau cái
chết của Mykola Skrypnyk, nhiều đảng viên cộng sản Ukraine bắt đầu bừng tỉnh và
tỏ ý chống lại việc thí nghiệm các chính sách cộng sản trên đất Ukraine. Tuy
nhiên, Stalin không để họ có thời cơ. Theo Vasyl Hryshko, trong cuộc thanh
trừng từ 1936 đến 1938: 99 trong số 102 thành viên ủy ban trung ương đảng cộng
sản Ukraine lần lượt bị hành quyết. Năm 1938, Nikita Krushchev với đa số đảng
viên người Nga chính cống lên nắm quyền lãnh đạo CPU.
Thế chiến
thứ hai
Ngày
23/8/1939, Hitler và Stalin thông qua đại diện là Ribbentrop và Molotov ký hiệp
định bất tương xâm. Theo hiệp định này, Nga bảo đảm cho Hitler tấn công Ba Lan
mà không gây ra chiến tranh với Nga. Trong thực tế,
Stalin cũng nắm lấy cơ hội này để ký thảo hiệp mật với Ðức để cho Nga tấn công
lãnh thổ Galicia và một phần phía Ðông Ba Lan. Ngược lại, Stalin ngầm tiếp viện
khí tài chiến tranh cho Ðức. Stalin đã thực hiện đúng những cam kết tiếp viện
cho Ðức mãi cho đến ngày bị Ðức tấn công.
Ngày
1/9/1939, Ðức xâm lược Ba Lan và khởi đầu chiến tranh thế giới thứ hai. Từ ngày
đầu tiên của chiến tranh, người Ukraine đã lãnh đủ vì nhiều người Ukraine bị
động viên đi lính Ba Lan và bom đạn thi nhau rơi trên đầu người Ukraine và
người Ba Lan. Stalin chụp lấy cơ hội tấn công và chiếm miền Bukovyna từ tay
người Rumani và những phần lãnh thổ dưới quyền Ba Lan. Sau
khi chiếm được những miền này, Stalin lập tức cải tạo miền này và «giải
phóng» cho
750,000 người Ukraine đi mò tôm hay đi hóng gió ở Siberia (Vasyl Hryshko – During the Bolshevik rule in Western
Ukraine – p 117). Tại Ba Lan, nay do Ðức chiếm đóng, Toàn quyền Ba Lan được
thành lập và theo chính sách chia để trị, khoảng nửa triệu người Ukraine đang
sống tại Ba Lan được dễ thở hơn người Ba Lan và được hoạt động chính trị trong
tổ chức Những Người Ukraine Quốc Gia (OUN). Chẳng may, vào tháng 2/1940, tổ
chức này bị những mâu thuẫn nội bộ nên chia thành 2 nhóm, một nhóm theo Adriy
Melnyk và một nhóm theo Stepan Bandera.
Ngày
22/6/1941 Hitler phát động chiến dịch Drang nach Osten (Ðông Tiến) bằng cuộc
oanh kích dữ dội biên giới Ukraine và Belarus. Trong ngày đầu tiên, tất cả các
thành phố lớn của Ukraine như Kiev, Lviv đều bị bỏ bom. Quân Ðức trong tập đoàn
quân Wehrmacht, lên đến 3,000,000 binh lính và sĩ quan tràn vào lãnh thổ
Ukraine như thác lũ dưới sự chống đỡ yếu ớt của hồng quân Liên Sô. Các sĩ quan và binh lính Ðức rất ngạc nhiên vì đi đến đâu họ
cũng được người dân Ukraine cầm hoa hay bánh mì và muối theo truyền thống hoan
hô nhiệt liệt như những vị anh hùng giải phóng cho họ. Có lẽ họ đã quá đau khổ
dưới ách thống trị của cộng sản nên sẵn sàng chào đón bất cứ ai không cần biết
tốt xấu. Ðối với họ cộng sản là tột đỉnh của đau khổ rồi. Sự chán ghét
chế độ cộng sản còn được minh chứng qua hành động đầu hàng tự nguyện của một
tập đoàn quân đông đảo. Trong chiến sử thế giới có lẽ chưa bao giờ chứng kiến
việc ra đầu hàng của một tập đoàn quân lên đến gần 665,000 quân tại mặt trận
Kiev. Trong số 667,085 quân nhân trú đóng tại Kiev, chỉ
có khoảng 2000 quân chạy theo hồng quân Liên Sô, số còn lại tự nguyện ở lại đầu
hàng quân Ðức. Rủi thay, theo chính sách kỳ thị của quân Ðức, những binh sĩ
Ukraine ra đầu hàng đã bị bỏ đói hoặc cố tình để cho chết vì sương gió trong
các trại tù binh dưới cái lạnh của mùa Ðông 1941-1942. Lúc này, quân Ðức không
thiếu quân nhu.
Chính sách
đồng hoang nhà trống của Stalin
Theo
sử gia Andrew Gregorovich, Stalin quá hốt hoảng trước sức tấn công của quân Ðức
đến nỗi trong 11 ngày đầu tiên của chiến tranh, y không nói một lời nào. Ngày
3/7/1941, trên đài truyền thanh Stalin mới lên án tình bạn của y với Hitler và
Ribbentrop, đồng thời ra lệnh thực hiện chính sách đồng hoang nhà trống trên
đường rút chạy. Sự thật của chính
sách này là gì?
6 triệu
trâu bò của Ukraine được đưa lên tàu
chở về Nga, 550 xí nghiệp lớn và hàng ngàn xí nghiệp nhỏ và trung bình bị rỡ
máy móc và thiết bị đưa về Nga cùng với 300,000 xe máy cầy. 3.5 triệu chuyên
viên các ngành bị di tản dưới họng súng của NKVD (KGB). Tất cả nhân viên và ban
giảng huấn của các trường đại học tại Kiev và Khrakiv cũng bị cưỡng bách di tản
sang Nga.
Mặt khác,
5,000 toa xe lửa, 607 cầu xe lửa chạy qua được, 915 nhà kho bị phá hủy. Nghiêm
trọng hơn là đập thủy điện lớn nhất châu Âu bấy giờ là đập Dniprohes, nơi cung
cấp nguồn điện cho hàng ngàn mỏ, các xí nghiệp và thủ đô Kiev bị đánh xập không
phát điện được nữa. Vương Cung Thánh Ðường Ðức Mẹ An Nghỉ ( Dormition
Cathedral) được xây từ năm 1073 tại Kiev đã bị KGB đặt bom nhằm giết người Ðức.
Trong nhiều năm, Mạc Tư Khoa luôn ráo riết đổ tội ác
này cho Ðức. Sau khi cộng sản sụp đổ, người ta tìm được các bằng chứng cho thấy
chính mật vụ Liên Sô đã đặt bom nổ chậm để tiêu diệt người Ðức.
Trên đường
tháo chạy, hồng quân Liên Sô phá hoại tất cả những gì có thể phá theo lệnh của
Stalin. Tất cả trâu, bò gia súc không mang đi được đều bị bắn bỏ, nhiều cánh rừng
bị đốt trụi và rất nhiều nhà cửa của dân cũng bị đốt cháy.
Ảo tưởng về
người Ðức
Quá đau khổ
với chế độ cộng sản, người Ukraine dễ có cảm tình với người Ðức và coi họ là
những người đến để giải phóng mình. Họ ảo tưởng đến độ ngày 30/6/1941, Stepan
Bandera làm ngạc nhiên người Ðức bằng cách trịnh trọng tuyên bố thành lập nước
Ukraine Ðộc Lập với Yaroslav Stetsko làm thủ tướng. Chỉ một tuần sau, người Ðức
giải tán chính phủ này và bắt tất cả các thành viên, trong đó có Bandera và
Stetsko đưa sang Ðức giam giữ.
Trong
thâm tâm người Ðức, người Ukraine là dân hạ đẳng và chính sách của Ðức là biến «kho
bánh mì của châu Âu» này
thành ra kho bánh mì của Ðức. Chủ trương của Hitler là diệt chủng người
Ukranine và đưa người Ðức sang lập nghiệp.
Trong những tháng đầu, người Ðức thực hiện chính sách
giết người Ukraine. Họ ra thông báo hễ cứ 1 lính Ðức chết thì lập tức đem ra xử
bắn 100 người Ukraine vô tội. Tuy nhiên, càng gần về cuối, Hitler đổi chính
sách thay vì giết, y đưa những người Ukraine sang Ðức lao động phục vụ cho
chiến tranh. Khoảng 2.5 triệu người Ukraine đã bị bắt đưa sang Ðức lao động cho
đến chết.
Quân kháng
chiến Ukraine
Ðứng trước
chính sách diệt chủng của người Ðức, quân kháng chiến Ukraine (Ukrainska
Povstanska Armiya –gọi tắt là UPA) được thành lập. với quân số lên đến 200,000
người và được chỉ đạo bởi tổ chức Những Người Ukraine Quốc Gia (OUN) theo hệ
phái Bandera. Quân Kháng Chiến Ukraine (UPA) phải chiến đấu với cả quân Ðức lẫn
hồng quân Liên Xô. Cuộc chiến đấu
của UPA dưới quyền tướng Roman Shukhevich kéo dài mãi đến năm 1950 khi ông này
bị tử thương trong một trận đánh ác liệt với hồng quân Liên Xô. Một số tàn binh
may mắn chạy thoát được đã xin định cư tại các nước phương Tây.
Sư đoàn
Galicia
Mặc
dù có đến 4.5 triệu binh lính và sĩ quan người Ukraine trong hồng quân Liên Sô,
người Nga không tổ chức họ thành một đơn vị biệt lập mà luôn phân tán họ vào
chung với các đơn vị Nga để dễ kiểm soát.
Trong vùng
Galicia, người Ðức để cho người Ukraine nhiều quyền hành hơn thông qua Ủy Ban
Trung Ương Ukraine do giáo sư V. Kubijovych lãnh đạo. Tháng 4/1943, với ý đồ
tuyên truyền, lôi kéo người Ukraine về phe mình, Hitler cho thành lập sư đoàn
quân Galicia gồm toàn người Ukraine. Các thanh niên Ukraine được các tổ chức
quốc gia Ukraine khuyến khích gia nhập đạo quân này không phải để đánh nhau và
chết thay cho người Ðức nhưng vì họ mong muốn có những người được huấn luyện
tinh nhuệ hầu sau này có thể bảo vệ nền độc lập của Ukraine. Éo le thay, người
Ukraine đã phải trả một giá đắt về toan tính này.
Sư
đoàn Galicia sau thời gian huấn luyện đã có quân số lên đến 40,000 người. Từ
ngày 13 đến 22/7/1944, họ được đưa vào mặt trận Brody đánh nhau với hồng quân
Liên Sô để cầm chân quân Nga cho quân Ðức đang tìm đường tháo chạy. Họ bị vây tại đây và bị quân Nga tiêu diệt gần hết. 37,000
binh lính và sĩ quan Ukraine tử thương trong trận này, chỉ còn khoảng 3000
người thoát được vòng vây. Tuy nhiên, trước nguy cơ bị hồng quân Liên Xô thôn
tính, người dân miền Tây Ukraine vẫn động viên con cái tham gia vào sư đoàn
Galicia. Chỉ một tháng sau đó, đã có 20,000 tân binh tình nguyện gia nhập sư
đoàn.
Mặc dù vậy,
trước sức tấn công mạnh mẽ và khí giới dồi dào của hồng quân, sư đoàn đã phải
triệt thoái theo quân Ðức. Tháng 4/1945, sư đoàn được đổi tên là Sư Ðoàn 1
Ukraine và gia nhập vào Quân Ðội Ukraine Quốc Gia. Quân Ðội Ukraine Quốc Gia
dưới quyền điều động của tướng Pavlo Shandruk đã khôn khéo tránh được đường
tiến công của hồng quân Liên Xô và ra trình diện quân đội Ðồng Minh tại Áo. Họ
được quân Ðồng Minh đưa về trú đóng tại Rimini, Ý.
Sau
khi chấm dứt chiến tranh, Liên Sô kiên quyết đòi buộc Ðồng Minh giao sư đoàn
này cho họ. Tuy nhiên, các nước Ðồng Minh thừa biết số phận của những người này
sẽ ra sao một khi họ bị giao cho phía Liên Sô. Vì thế, các giới chức thẩm quyền
Anh, Gia Nã Ðại và Úc Ðại Lợi đã nhanh chóng điều tra xem họ có phạm tội ác
chiến tranh không và nhận họ vào định cư tại các nước này.
Chính sách
đồng hoang nhà trống của Ðức
Quân Ðức
trên đường tháo chạy cũng làm tương tự như hồng quân Liên Sô nhưng chúng có
nhiều thời giờ hơn. Chúng phá hoại có hệ thống hơn. Do đó, cấu trúc hạ tầng của
Ukraine như hệ thống đường xá, đường xe lửa, cầu cống... hoàn toàn bị tê liệt
để ngăn cản đường tiến quân của hồng quân Liên Xô.
Chấm dứt
chiến tranh thế chiến II
Tháng
2/1945, tại hội nghị Yalta ở Crimea, các siêu cường Anh, Mỹ và Liên Xô đã chia
lại bản đồ Âu Châu theo đó, Ukraine bao gồm phần phía Ðông Galicia, Wolhynia và
Bắc Bukhovyna. Ukraine cũng được coi là một thành viên của Liên Hiệp Quốc. Theo hội nghị này, những người Ukraine đã được đưa sang Ðức
làm nô lệ, nếu còn sống đều bị trả về cho Liên Xô. Ða số, nếu không muốn nói là
tất cả đều chết rũ tù sau đó tại Siberia.
Cuối
năm 1991, Liên Xô sụp đổ và Ukraine trở thành một quốc gia độc lập như ngày
nay. Tuy vậy, ngày nay người Nga
(chiếm ¼ dân số) vẫn tiếp tục nắm giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy
công quyền và trong các hoạt động xã hội. Cả về mặt tôn giáo, Ukraine cũng còn
chịu nhiều ảnh hưởng của Nga.
*Thái
độ tướng lãnh Việt Cộng:
Thái độ của mấy ông tướng Việt Nam đối với vấn đề Ukraina. Việc Nga xâm lược Ukraina đã tạo một tiền lệ nguy hiểm khi
một số người cho rằng Trung Quốc có thể dựa theo logic đó để xâm lược Việt Nam.
Nhà văn Duy Anh Tạ đăng trên FB của mình: «TÍNH ĐẾN GIỜ NÀY:
«-Báo chí Việt Cộng vẫn bảo vệ vững chắc cụm từ “Chiến dịch quân sự đặc biệt”
thay cho từ Chiến tranh xâm lược của Putin.
«-Các hội đoàn Nhà nước nuôi
vẫn ngoan ngoãn nằm gọn trong vòng tay cấp trên để không có bất cứ sự vượt rào
nào trong thể hiện thái độ về cuộc chiến xâm lược do Putin tiến hành chống lại 4/5 nhân loại.
«Chúc mừng Ban tuyên giáo và
các đồng nghiệp.»
Thêm nữa, các dư luận viên «cao cấp» - vốn là các tướng lĩnh (nhưng không hiểu rõ bản chất của
nước Nga thời Putin) nên còn đưa ra các luận điệu nhằm «đánh bùn sang ao»,
làm dư luận rối trí. Ví dụ, Trung tướng dư luận viên
Nguyễn Thanh Tuấn thì viết rằng:
«Đã thế vì sức ép của Mỹ
Tổng thống Zelenxki (Zelensky) không chịu thực hiện thỏa thuận Noocmandi
(Normandy treaty) tìm biện pháp hoà bình thống nhất đất nước mà đẩy mạnh xây
dựng quân đội, phát triển quân sự với ý định gia nhập NATO dựa vào Mỹ để thu
hồi các vùng đã mất và ly khai, đối đầu chống Nga, cùng Mỹ bao vây kiềm chế làm
suy yếu nước Nga. Một chính quyền chấp nhận phụ thuộc Mỹ đã đẩy Ucraina
(Ukraine) đến hoàn cảnh như hiện nay.
«Với Nga hay bất cứ nước nào
như Nga cũng không thể chấp nhận một nước láng giềng gần gũi cùng chung biên
giới quay lưng cùng các nước khác chống mình , đặc biệt Nga càng không thể bị
nhiều lần phản bội nên họ cần có biện pháp ngăn chặn xoá bỏ nguy cơ đưa chiến
tranh đến với nước mình .
«Từ nguy cơ trên Nga đã phát
động chiến dịch Quân sự đặc biệt nhằm chống quân sự hóa và phát xít hoá ở
Ucraina (Ukraine), với mục tiêu này ngày 24/2 Nga đã tiến công Ucraina như
chúng ta đã biết.» (1)
Thiếu tướng Lê Văn Cương thì khẳng định như đinh đóng cột: «Tổng thống Putin đã tuyên bố: Thứ nhất, Nga không xâm lược,
không cướp đất của Ukraine; Thứ hai, Nga không đánh vào dân thường Ukraine vì
người Ukraine và người Nga cùng một chủng tộc, chung tổ tiên, dòng máu. Tôi tin
tuyên bố ấy là đúng mức và ông Putin sẽ làm như vậy.» (2)
Cũng cùng ý kiến đó, Trung tướng
Nguyễn Đức Hải cũng khẳng định: «Nga nhấn
mạnh rằng không xâm lược các nước láng giềng khác mà chỉ đáp trả mối đe dọa từ
Ukraine. Nga muốn thực hiện phi quân sự tiềm lực quân sự của Ukraine, vì thời
gian gần đây Nga hiểu rằng tiềm lực quân sự từ bên ngoài trực tiếp hỗ trợ, hiện
đại hóa cho Ukraine.» (3)
Với logic suy luận của tướng Tuấn, thì việc Trung Quốc đe
doạ khi Việt Nam xích lại gần trong quan hệ với Mỹ, và Việt Nam phải «ngoan ngoãn»
chấp thuận, đó là điều đương nhiên chăng? Còn đối với tướng Cương và tướng Hải,
các ông nghĩ sao về việc Trung Quốc nếu tấn công các tiền đồn mà Việt Nam đang
chiếm giữ ở Trường Sa, và khẳng định đó không phải là xâm lược mà chỉ là «thu hồi»
những gì thuộc Trung Quốc, như họ đã và đang rêu rao. Còn nhớ, chiến tranh Biên
giới năm 1979, khi mà Trung Quốc tấn công sáu tỉnh biên giới phía Bắc của Việt
Nam, Trung Quốc cũng «biện minh»
rằng: đây là cuộc chiến tranh tự vệ của Trung Quốc trước Việt Nam. Nếu theo
logic này, khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, sẽ không có quốc gia nào trên thế
giới cần phải lên tiếng ủng hộ Việt Nam hết, vì đâu có chuyện Trung Quốc xâm
lược Việt Nam đâu?
Hãy nghe Cựu Phó Đô đốc, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải
quân Việt Nam, Thiếu tướng Đỗ Minh Thái nói về vấn đề này trên FB
của ông ta: «…Năm 1978 bộ tam sang ký hiệp ước, nhưng 1979 tàu khựa vẫn đánh
ta, niềm tin về sức mạnh Liên Xô phai nhạt là tất yếu?
«Năm 1988 xảy ra vụ Trường Sa và thảm sát Gạc Ma. Lãnh
đạo Hải Quân bức xúc vì Hải Quân Liên Xô ở Cam Ranh án binh bất động, không
chia sẻ thông tin. Họ trả lời vì... không có lệnh của cấp trên…
«Sau này nhiều lần làm việc, họ luôn nói sẵn sàng giúp đỡ
ta, nhưng nếu không thanh toán hợp đồng đúng hạn thì còn khuya nhé, chưa kể hợp
đồng nào cũng có rất nhiều phát sinh và bổ sung hợp đồng, tức là thêm tiền…
«Nhưng phản cảm nhất là chuyến thăm của lãnh đạo ta năm
2014. Đến Moscow đón rất lạnh nhạt, mấy ngày sau bác cả phải bay xuống Xochi
mới gặp đối tác để ký các văn kiện! Riêng văn kiện tôi chịu trách nhiệm, đã
xong bản in để ký, họ nói phải sửa... Tôi nhẹ nhàng: Giờ sửa cũng ok, nhưng sẽ
không thể ký lần này! Lúc đó họ mới thôi yêu sách. Khi đoàn đến Minsk, TT trải
thảm đỏ đón và tiễn đoàn, mới thấu hiểu về người Nga mới.
«Những chuyện này cũng mới chỉ là phần nổi của tảng băng
trôi. Thế nên chiến tranh với Ukraina cần được nhìn nhận từ nhiều góc độ, mới hiểu được bản chất vấn đề.»
Thế mới hiểu, có nhiều ông tướng chỉ là trong nhà, chả hiểu
gì về thế giới mà cũng bàn luận thế sự. Cứ thế thì Việt Nam cái quần cũng chả
còn, nữa là biển đảo.
II-Về mặt tôn giáo, chiếm
được Ukraine
Nga sẽ xóa
sổ Giáo Hội Chính Thống Ukraine thống nhất
Đây là nửa
bài viết Lịch Sử của đất nước Ukraine của Andrew Gregovich, giáo sư sử học
Ukraine đã nói ở trên.
Sau khi cộng
sản sụp đổ, tại Ukraine có đến 3 Giáo Hội Chính Thống Giáo. Nhóm đông nhất là
nhóm Chính Thống Giáo Nga trực thuộc tòa thượng phụ Mạc Tư Khoa. Nhóm thứ hai
là Chính Thống Giáo Ukraine và nhóm thứ ba là Chính Thống Giáo Ukraine tự trị
với đa số là các vị Chính Thống Giáo Ukraine trở về từ hải ngoại sau khi cộng
sản sụp đổ.
Hai nhóm
sau đã chấp nhận thống nhất trong Giáo Hội Chính Thống tân lập. Tòa Thượng Phụ
Mạc Tư Khoa coi Giáo Hội Chính Thống Giáo tân lập là ly giáo và cảnh cáo bất cứ
Giáo Hội Chính Thống Giáo nào trên thế giới dám công nhận Giáo Hội mới này.
Tâm tình
bài Nga đã dâng cao đặc biệt sau nạn đói diệt chủng Holodomor diễn ra trong hai
năm 1931-1932 khiến ít nhất 7 triệu người chết vì đói. Thông qua chính sách
siết chặt định mức tài nguyên nông nghiệp, Stalin chặn đứng việc cung cấp thóc
giống, xăng dầu và các phương tiện canh tác cho các nông dân Ukraine. Chính sách nham hiểm này dẫn đến nạn đói kinh hoàng ngay
trong thời bình, gọi là Holodomor. Tuyên bố chung của Ủy Ban Điều Tra Liên Hiệp
Quốc với sự đồng thuận của 25 quốc gia vào năm 2003 nhìn nhận con số người chết
trong biến cố Holodomor là từ 7 đến 10 triệu người trong hai năm 1932-1933.
Trong khi đó, các sử gia Ukraine cho rằng ít nhất là 12 triệu người đã chết đói
trong thời kỳ đó.
Khác với
Giáo Hội Công Giáo, Chính Thống Giáo không có một cơ cấu thống nhất, nhưng chia
thành 15 Giáo Hội tự trị là Constantinople, Alexandria, Antiokia, Giêrusalem,
Nga, Serbia, Rumani, Bảo Gia Lợi, Georgia, Síp, Hy Lạp, Ba Lan, Albania, Tiệp
Khắc, Hoa Kỳ. Giáo Hội Chính Thống Giáo tại Ukraine và Belarus không phải là
các Giáo Hội độc lập nhưng phụ thuộc vào Chính Thống Giáo Nga.
Từ năm
2018, Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô của Constatinople đã nhiều lần bày tỏ
ý muốn hiệp nhất ba Giáo Hội Chính Thống tại Ukraine thành một. Nhưng Tòa
Thượng Phụ Mạc Tư Khoa không đồng ý vì âu lo Giáo Hội tân lập sẽ tách khỏi Mạc
Tư Khoa. Sau khi hai trong ba Giáo Hội Chính Thống Giáo
tại Ukraine hiệp nhất với nhau, Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô đã khẳng
định sẽ trao quy chế tự trị cho Giáo Hội tân lập Ukraine.
Đáp lại,
Thánh Công Đồng Chính Thống Nga (bao gồm Nga, Belarusia và Ukraine) đã quyết
định chấm dứt «hiệp thông
Thánh Thể» với Tòa Thượng Phụ Constatinople.
Hàng lãnh
đạo Thánh Công Đồng Chính Thống Giáo Nga cho rằng họ không thể tiếp tục «hiệp thông Thánh Thể»
với Tòa Thượng Phụ Constatinople vì xem quyết định của Đức Thượng Phụ Đại Kết
Bácthôlômêô là một hành động lấn chiếm trên «lãnh thổ giáo luật» của Tòa
Thượng Phụ Mạc Tư Khoa, và vì Tòa Thượng Phụ Constatinople đã thừa nhận các
nhóm ly giáo, và công nhận Đức Thượng Phụ Philaret Denisenko của Chính Thống
Giáo Kiev, cùng với tất cả các «giám mục»
và «giáo sĩ»
được phong chức bởi vị Thượng Phụ này.
Theo Tòa
Thượng Phụ Mạc Tư Khoa, Nga, Belarusia và Ukraine là các quốc gia nằm trong «lãnh thổ giáo luật»
của Chính Thống Giáo Nga, tức là dưới quyền tài phán của Tòa này.
Trong khi
đó, Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô không đồng ý như vậy. Ngài giải thích
như sau:
«Chính Thống Giáo Ukraine đã có từ lâu trước khi
Tòa Thượng Phụ Kiev được dời đến Mạc Tư Khoa vào đầu thế kỷ 14. Việc di dời này
không hề có phép về giáo luật của Giáo Hội Mẹ. Từ đó đã có những nỗ lực không
mệt mỏi về phía các anh em người Kiev của chúng ta để giành độc lập khỏi sự
kiểm soát của Tòa Thượng Phụ Mạc Tư Khoa.»
Đức Thượng
Phụ Bácthôlômêô nói thêm rằng không có biến cố lịch sử nào của Giáo hội Chính
thống ở Ukraine «có thể biện
minh cho bất kỳ sự can thiệp nào của Giáo hội tại Nga.»
Hơn thế nữa, «Nga, là
nước phải chịu trách nhiệm cho tình hình đau khổ hiện nay ở Ukraine, vì thế
không thể đứng ra giải quyết vấn đề này.»
Do đó, ngài
nhấn mạnh rằng: «Thượng Phụ
Đại kết đã chủ động giải quyết vấn đề bất công này.»
Ngày 6
tháng Giêng, 2019, Tổng thống Ukraine lúc bấy giờ là ông Petro Poroshenko, Chủ
tịch Quốc Hội Andriy Parubiy và các thành viên của phái đoàn đã tham gia vào
nghi thức trao Tomos trong Phụng vụ Thánh do Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô
và Đức Thượng Phụ Epiphaniy cử hành.
Nếu
Nga chiếm được Ukraine, khả năng đó là rất cao. Hầu chắc, họ sẽ xóa sổ Giáo Hội
Chính Thống Giáo mới của Ukraine.
Thái độ thù
địch của Tòa Thượng Phụ Mạc Tư Khoa đối với Giáo Hội Công Giáo Ukraine nghi lễ
Đông phương
Tòa
Thượng Phụ Mạc Tư Khoa luôn giữ một thái độ thù địch chống lại Giáo Hội Công
Giáo Ukraine, trước khi xảy ra
vụ Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô trao Tomos cho Giáo Hội Chính Thống Giáo
tân lập Ukraine, Tòa Thượng Phụ Chính Thống Mạc Tư Khoa đã thường xuyên lên
tiếng đòi hỏi rằng các cuộc họp Liên Chính Thống Giáo toàn thế giới phải đưa ra
thảo luận tình trạng của các Giáo Hội Đông Phương hiệp thông với Tòa Thánh. Tòa
Thượng Phụ Mạc Tư Khoa coi đó là điều kiện tiên quyết, miễn bàn cãi, nếu muốn
tòa này tham dự các cuộc họp Liên Chính Thống Giáo.
Tuy nhiên,
trong một phản ứng ngược lại, Tòa Thượng Phụ Đại Kết thành Constantinople đã
đưa ra một tuyên bố rất thân thiện đối với Giáo Hội Công Giáo Ukraine, và cám
ơn vì sự hỗ trợ cho cuộc họp Liên Chính Thống Giáo gần đây ở Crete.
Tòa Thượng
Phụ Chính Thống Mạc Tư Khoa đã phàn nàn rằng trong nhiều năm qua từ sau khi chế
độ cộng sản bị sụp đổ tại Đông Âu, Giáo Hội Công Giáo Đông phương ở Ukraine, đã
tăng gấp đôi dân số. Tòa Thượng Phụ Chính Thống Mạc Tư Khoa cáo buộc rằng Đức
Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk đã dùng tình cảm dân tộc và thái độ bài Nga
để kích động tâm tình thù địch đối với Chính Thống Giáo Ukraine liên minh với
Mạc Tư Khoa.
Tuyên bố từ
Mạc Tư Khoa ám chỉ một tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Shevchuk nói rằng «Tòa Thượng phụ Mạc Tư Khoa
thường được sử dụng như một công cụ trong tay của kẻ xâm lược».
Đức Tổng Giám Mục thường lên án sự hỗ trợ mà Tòa Thượng phụ Mạc Tư Khoa dành
cho cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine.
Tòa Thượng
Phụ Mạc Tư Khoa cho rằng thái độ thù địch của Giáo Hội Công Giáo Ukraine đã tạo
ra một tình trạng «khẩn cấp»
mà cuộc họp tiếp theo của các nhà lãnh đạo Chính Thống Giáo trên thế giới nhất
thiết phải đưa ra thảo luận.
Trong khi
đó, Đức Thượng Phụ Barthôlômêô của Constantinople đã gửi một thông điệp cảm ơn
đến Đức Tổng Giám Mục Shevchuk vì sự hỗ trợ của ngài cho cuộc họp Liên Chính
Thống Giáo hồi tháng Sáu vừa qua ở Crete
Đáng chú ý,
là tuyên bố từ Constantinople được gởi cho «Đức Thượng Phụ» Shevchuk,
một danh xưng mà Tòa Thượng Phụ Mạc Tư Khoa thẳng thừng bác bỏ và chính Tòa
Thánh cũng không dám gọi Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk bằng danh xưng
ấy. Danh xưng chính thức Tòa Thánh dùng là Major Archbishop, nghĩa là, «Đức Tổng Giám Mục Trưởng».
Trong thông
điệp của ngài, Đức Thượng Phụ Barthôlômêô hứa cầu nguyện cho «hòa bình và ổn định tại
Ukraine.» Ngài cũng mạnh mẽ nêu rõ rằng sự thù địch mà Tòa Thượng Phụ
Mạc Tư Khoa dành cho Giáo Hội Công Giáo Ukraine không được chia sẻ bởi các Giáo
Hội chính thống khác.
Đức Thượng
Phụ Đại kết viết:
«Chúng tôi
có thể bảo đảm với Đức Thượng Phụ rằng lập trường đối thoại với các Giáo Hội
chị em của chúng tôi đã được hỗ trợ áp đảo trong các phiên họp công đồng và
được ghi nhận trong các tài liệu chính thức. Điều này, theo ý kiến của chúng
tôi, chắc chắn là rất quan trọng cho những chứng tá đáng tin cậy và nhất quán
cho Tin Mừng trong một thế giới và một thời đại gặp quá nhiều khó khăn của
chúng ta.»
Source:Prof. Andrew GregorovichABRIDGED HISTORY OF
UKRAINE