80 NĂM CỘNG SẢN CAI TRỊ VIỆT NAM:
HỆ LỤY VÀ DI SẢN
Tài liệu hội thảo 7/11/2025
Một Di Sản Viết Bằng Máu và nước mắt
Tám mươi năm trước, vào năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam nắm chính quyền trong bối cảnh hỗn loạn của Thế chiến II và sự sụp đổ của chế độ thực dân. Hôm nay, cộng đồng người Việt hải ngoại cùng nhau nhìn lại tám thập niên dưới sự cai trị độc đảng cộng sản – một giai đoạn không được ghi dấu bởi tự do hay phồn vinh, mà bởi sự đàn áp tàn bạo, những bi kịch khôn nguôi và tinh thần kiên cường bất khuất.
Từ nạn đói lớn năm 1945 ở miền Bắc cướp đi sinh mạng của gần hai triệu người, đến các trại “cải tạo” sau chiến tranh, làn sóng người vượt biển vượt biên, cho đến nhà nước công an trị kỹ thuật số ngày nay – nhân dân Việt Nam đã gánh chịu biết bao khổ đau. Chúng ta cùng nhau điểm lại các hình thức đàn áp chính trị, sự tàn phá về kinh tế và diệt vong văn hóa đã trở thành dấu ấn xuyên suốt sự cai trị của Đảng Cộng sản từ năm 1945 đến 2025, và tưởng niệm vô số nạn nhân đã ngã xuống.
Quan trọng hơn hết, chúng tôi kêu gọi toàn thể người Việt hải ngoại tiếp tục giữ gìn và thắp sáng ngọn lửa đấu tranh cho sự thật, tự do và công lý trên quê hương yêu dấu của chúng ta.
Đàn Áp Chính Trị: Tám Thập Niên Sống Trong Sợ Hãi và Im Lặng
Dưới chế độ cộng sản, Việt Nam là một quốc gia độc tài độc đảng không chấp nhận bất kỳ tiếng nói đối lập nào. Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) độc quyền toàn bộ quyền lực – không có bầu cử tự do, không có đảng đối lập, và cũng không có hệ thống tư pháp độc lập. Như tổ chức Freedom House ghi nhận: “Việt Nam là một quốc gia độc đảng... quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và hoạt động xã hội dân sự đều bị kiểm soát nghiêm ngặt. Tư pháp độc lập hoàn toàn vắng bóng.” Ngay từ buổi đầu nắm quyền, chế độ đã xây dựng nền móng cai trị dựa trên bạo lực và khủng bố.
Trong thập niên 1950, nhà cầm quyền Hồ Chí Minh ở miền Bắc đã tiến hành một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn bạo, xử tử hàng ngàn nông dân bị quy chụp là “địa chủ” hay “phản động.” Các ước tính đáng tin cậy cho biết khoảng 15.000 đến 50.000 người đã bị giết trong giai đoạn cải cách ruộng đất 1954–1956, một con số mà chính giới chức cộng sản sau này cũng thừa nhận là “quá đà.” Cuộc thảm sát này đã châm ngòi cho nhiều cuộc nổi dậy của nông dân, nhưng đều bị đàn áp đẫm máu – riêng cuộc nổi dậy năm 1956 đã khiến hơn 6.000 người bị giết hoặc bị đưa đi đầy. Đến năm 1975, khi toàn cõi Việt Nam nằm dưới sự kiểm soát của nhà cầm quyền Hà Nội, Đảng Cộng sản đã hoàn thiện toàn bộ công cụ của một nhà nước công an trị: độc quyền chính trị, mạng lưới mật vụ rộng khắp, và một bầu không khí sợ hãi bao trùm xã hội.
Sau khi thắng cuộc chiến năm 1975, chế độ cộng sản đã áp đặt các “trại cải tạo” khắc nghiệt trên khắp miền Nam – thực chất là các trại tù lao động kiểu gulag dành cho mọi thành phần bị xem là “đối tượng chính trị,” từ quân nhân, viên chức, giáo chức, tu sĩ cho đến thường dân từng phục vụ dưới thể chế Việt Nam Cộng Hòa. Hàng trăm ngàn người đã bị bắt giam không xét xử và đưa đến những trại giam biệt lập, nơi họ bị cưỡng bức lao động khổ sai, nhồi sọ chính trị và tra tấn dã man. Nhiều người bị giam giữ suốt nhiều năm, thậm chí tới 17–18 năm, chỉ vì niềm tin chính trị trong quá khứ. Ước tính lên đến một triệu người miền Nam đã trải qua các trại cải tạo, và khoảng 165.000 người đã chết vì hành quyết, bệnh tật, đói khát hay bị tra tấn. Tra tấn là điều phổ biến trong các trại này – không chỉ là sự trả thù mà còn là công cụ đàn áp và nhồi sọ tinh vi. Cho đến nay, thân nhân của các nạn nhân vẫn mang những vết thương tinh thần không thể lành – như lời kể của một cựu tù nhân: “Nhiều người chết vì đói, vì bị tra tấn hay bệnh tật. Họ bị chôn vùi trong rừng núi hoang vu, mộ phần không tên… Gia đình họ không bao giờ tìm lại được.” Đó chính là cái giá kinh hoàng của cái gọi là “giải phóng” – nhà tù thay vì tự do.
Ở Việt Nam thời cộng sản, bất kỳ ai bất đồng chính kiến hay đòi hỏi quyền căn bản đều bị đàn áp ngay lập tức. Đảng cầm quyền duy trì quyền lực bằng hệ thống giám sát dày đặc, mạng lưới chỉ điểm ở từng làng xã, và một bộ máy pháp luật được thiết kế để trừng phạt mọi tiếng nói đối lập. Những ai chất vấn chế độ đều bị gán là “thù địch với nhân dân,” bị truy tố theo các điều luật mơ hồ về “an ninh quốc gia” như “tuyên truyền chống Nhà nước” hay “phá hoại khối đoàn kết toàn dân.” Các phiên tòa xử các nhà bất đồng chính kiến thường chỉ kéo dài vài giờ, với bản án đã được soạn sẵn và không có cơ hội bào chữa thực sự – một kiểu “nhạo báng công lý” cho thấy sự vắng bóng hoàn toàn của một nền tư pháp độc lập, khi tòa án chỉ là công cụ trấn áp của Đảng.
Trong suốt nhiều năm, hàng trăm nhà hoạt động ôn hòa, blogger, công đoàn độc lập, tu sĩ và thường dân đã bị bỏ tù chỉ vì quan điểm của họ. Chỉ trong vài năm gần đây, số lượng tù nhân lương tâm đã gia tăng kỷ lục. Ân xá Quốc tế báo cáo rằng năm 2020 có ít nhất 170 tù nhân lương tâm đang bị giam giữ, trong đó có 69 người bị bắt chỉ vì đăng bài trên mạng xã hội. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) cũng cho biết bất kỳ ai chỉ trích chế độ độc đảng đều đối diện với sự đe dọa, đánh đập, quản thúc tại gia, và các bản án tù dài hạn dựa trên cáo buộc ngụy tạo. Ngay cả khi đã mãn án, các cựu tù nhân vẫn bị giám sát, quấy nhiễu hoặc buộc phải lưu vong. Thông điệp của chế độ rất rõ ràng: không một tiếng nói phản kháng nào được phép tồn tại. Trong suốt tám mươi năm, người dân Việt Nam đã sống trong một hình thức thiết quân luật tinh thần – nơi mà tư tưởng và lời nói đều bị kiểm soát nghiệt ngã.
Một số chiến thuật đàn áp mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã áp dụng suốt nhiều thập niên qua bao gồm:
- Giam giữ hàng loạt và trại lao động cưỡng bức:Từ các trại “cải tạo” trong thập niên 1970 đến những phòng giam ngày nay, chế độ cộng sản đã sử dụng biện pháp giam cầm như một công cụ để khuất phục ý chí của đối lập. Tù nhân thường bị biệt giam trong nhiều tháng, bị từ chối quyền có luật sư, và phải chịu các cuộc thẩm vấn lạm dụng cùng tra tấn. Trong những năm đầu, các nhà tù chính trị (như các trại cải tạo khét tiếng) thực chất là trại tập trung – nơi mà chế độ tìm cách tiêu diệt đối kháng bằng lao động khổ sai và bỏ đói. Nhiều người bị giam giữ đã không bao giờ trở về.
- Xét xử kiểu trình diễn và ép nhận tội:Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa các phương pháp Stalinist và Maoist để ép buộc tù nhân nhận tội nhằm phô trương trên truyền thông nhà nước. Những năm gần đây, Hà Nội còn sao chép mô hình của Trung Cộng khi cho phát sóng truyền hình những “lời thú tội” của các nhà hoạt động – thậm chí cả những nông dân bình thường. Từ năm 2007, ít nhất 21 người – bao gồm luật sư nhân quyền, người khiếu kiện đất đai, và nhà báo độc lập – đã bị cưỡng ép thú tội trên truyền hình, nhiều người mang dấu tích bầm tím rõ rệt trên mặt. Một trường hợp nghiêm trọng xảy ra năm 2020, sau vụ tranh chấp đất đai đầy bạo lực tại xã Đồng Tâm, bốn thành viên trong gia đình cụ Lê Đình Kình bị bắt và bị phát hình trên VTV với vết cắt và bầm tím, thú nhận “tội danh nghiêm trọng” chỉ vài ngày sau khi sự việc xảy ra. Những “lời thú tội” trên truyền hình như vậy hoàn toàn vi phạm pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế, nhưng chế độ vẫn sử dụng nhằm mục tiêu làm nhục các nhà bất đồng chính kiến và thao túng dư luận. Như Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền nhận định, đây là “một chiến thuật đáng xấu hổ được các chính quyền độc tài dùng để đe dọa, buộc các tiếng nói phản biện phải im lặng.”
- Giám sát toàn diện và kiểm duyệt tuyệt đối:Chế độ cộng sản hiện nay đã hiện đại hóa bộ máy đàn áp bằng công nghệ giám sát kỹ thuật số tân tiến. Mọi phương tiện truyền thông tại Việt Nam đều do nhà cầm quyền kiểm soát; các tổ chức báo chí hay xã hội dân sự độc lập đều bị cấm. Nhà cầm quyền kiểm duyệt báo chí, sách vở, phim ảnh, âm nhạc – bất cứ điều gì bị xem là “nhạy cảm chính trị.” Internet bị giám sát chặt chẽ: theo xếp hạng của Freedom House, Việt Nam là một quốc gia “không có tự do internet,” vì nhà cầm quyền sử dụng cả biện pháp pháp lý lẫn kỹ thuật để giới hạn nội dung và trừng phạt phát ngôn trên mạng. Năm 2018, nhà cầm quyền ban hành Luật An ninh mạng, buộc các công ty như Facebook và Google phải gỡ bỏ nội dung “không phù hợp” theo yêu cầu của nhà cầm quyền, đồng thời giao nộp thông tin người dùng.
Để kiểm soát không gian mạng, quân đội Việt Nam đã thành lập “Lực lượng 47” gồm 10.000 binh sĩ an ninh mạng, chuyên chống lại các “quan điểm sai trái.” Lực lượng này cùng với đội ngũ dư luận viên được nhà nước tài trợ đã theo dõi các bài viết trên Facebook, tràn ngập các diễn đàn mạng bằng tuyên truyền và tố cáo người dân cho cơ quan công an. Đáng tiếc là các tập đoàn công nghệ lớn thường xuyên tuân hành yêu cầu kiểm duyệt của nhà cầm quyền – Facebook và YouTube nay đã gỡ bỏ hoặc chặn nội dung theo vùng địa lý theo yêu cầu của Hà Nội, với tỷ lệ chấp hành lên đến 95% đối với Facebook. Kết quả là một hệ thống đàn áp phát ngôn trên mạng ở quy mô công nghiệp.
Nhiều blogger đã bị tuyên án 10 năm tù chỉ vì viết bài về tham nhũng hay nhân quyền. Người dân Việt Nam ngày nay hiểu rõ rằng email, điện thoại và mạng xã hội đều có thể bị theo dõi bởi bộ máy an ninh khổng lồ. Bóng dáng của nhà cầm quyền hiện diện ở khắp nơi – từ tổ dân phố, giấy mời công an, cho đến các hình thức gián điệp công nghệ cao. Chế độ cộng sản thực chất đã xây dựng một nhà nước giám sát theo kiểu Orwell, xâm nhập sâu vào tận cùng đời sống riêng tư của người dân.
Một ví dụ điển hình là vụ Đồng Tâm vào tháng 1 năm 2020. Đồng Tâm là một làng nhỏ gần Hà Nội, nơi dân làng phản đối việc quân đội chiếm đất chung của họ để làm khu công nghiệp. Vào rạng sáng ngày 9 tháng 1, 2020, nhà cầm quyền huy động khoảng 3.000 cảnh sát vũ trang đột kích vào làng, dẫn đến một vụ đụng độ đẫm máu. Ông Lê Đình Kình, 84 tuổi – trưởng làng và người đứng đầu cuộc phản đối – đã bị công an bắn chết ngay tại nhà. Nhà cầm quyền tuyên bố rằng người dân làng đã giết ba cảnh sát (theo phiên bản chính thức thì ba công an rơi xuống hố bê tông và tử vong). Sau đó, hàng chục người dân bị bắt. Trong một phiên tòa được tuyên truyền rầm rộ vào cuối năm, hai con trai của ông Kình bị tuyên án tử hình, một người cháu lãnh án chung thân, và nhiều người khác bị kết án tù nặng nề. Các tổ chức quốc tế lên án phiên xử là “vi phạm nghiêm trọng quyền được xét xử công bằng.” Đáng sợ hơn là những lời “thú tội” ép buộc trên truyền hình: chỉ vài ngày sau cái chết của ông Kình, đài truyền hình nhà nước chiếu hình ảnh thân nhân ông – mặt mũi bầm tím, băng bó – đứng trước ống kính “nhận tội”. Vụ Đồng Tâm cho thấy cách nhà cầm quyền đối xử với những người bảo vệ quyền sử dụng đất – bằng bạo lực tử vong, bản án nặng nề, và chiến dịch truyền thông bôi nhọ nạn nhân. Đáng buồn thay, đây không phải là trường hợp cá biệt – các cộng đồng nông thôn khác như Thủ Thiêm hay Văn Giang cũng từng trải qua những vụ cưỡng chế đất tương tự. Với người nông dân Việt Nam, đất đai là sự sống. Việc bị tước đoạt đất bởi một nhà nước tham nhũng không chỉ khiến họ mất kế sinh nhai, mà còn phá vỡ cấu kết xã hội và văn hóa làng quê bao đời.
Bi kịch ở đây là sau 80 năm độc lập trên danh nghĩa, các lãnh đạo cộng sản lại khiến đất nước lệ thuộc về kinh tế vào một loạt cường quốc ngoại bang mới (Trung Cộng và nước Nga thời Putin). Thay vì xây dựng một nền kinh tế tự lực, phồn thịnh phục vụ nhân dân, Đảng đã dựng nên một nền kinh tế thân hữu phục vụ quyền lợi riêng – khiến Việt Nam dễ bị tổn thương trước áp lực ngoại bang và tụt hậu xa so với các nước láng giềng phi cộng sản.
Tóm lại, di sản kinh tế của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam là một chuỗi sai lầm ý thức hệ dẫn đến chủ nghĩa tư bản độc tài:
- Những thập niên đầu mang lại tập thể hóa, kinh tế chỉ huy và sụp đổ – gây ra nghèo đói cùng cực.
- Những thập niên sau, sau khi cải cách một phần, mang lại tăng trưởng – nhưng cũng đồng thời nuôi dưỡng tham nhũng, bất bình đẳng, cướp đất, và lệ thuộc ngoại bang.
Mẫu số chung trong mọi chính sách là: các quyết định đều được đưa ra nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của Đảng, chứ không vì nâng cao đời sống của toàn dân. Tinh thần lao động và sáng tạo của người Việt đã bị bóp nghẹt và khai thác ở mọi cấp độ bởi những kẻ cai trị họ.
Hủy Diệt Văn Hóa: Xóa bỏ di sản và tiêu diệt niềm tin
Bên cạnh chính trị và kinh tế, sự cai trị của cộng sản còn để lại hậu quả nghiêm trọng về mặt văn hóa và tâm linh ở Việt Nam. Trong suốt 80 năm qua, chế độ cộng sản đã có một chiến lược có hệ thống nhằm triệt tiêu di sản văn hóa dân tộc, các truyền thống tôn giáo đa dạng, và thậm chí là ký ức lịch sử của một bộ phận lớn dân chúng. Mục tiêu của họ là “nhào nặn” xã hội Việt Nam thành một hình mẫu đơn điệu phù hợp với ý thức hệ cộng sản – và triệt tiêu mọi hình thức trung thành khác như tôn giáo, bản sắc vùng miền, hay di sản của Việt Nam Cộng Hòa. Hệ quả là một tổn thất nghiêm trọng cho di sản chung, một sự đứt gãy trong dòng truyền thừa sự thật giữa các thế hệ, và một vết thương tinh thần sâu đậm trong lòng những người bị tước đoạt quyền được sống đúng với chính mình.
Đàn áp văn học và tư tưởng:
Ví dụ, sách lịch sử ca ngợi Hồ Chí Minh và công cuộc kháng chiến của Đảng, nhưng hoàn toàn không nhắc đến các tội ác như Cải Cách Ruộng Đất hay nạn đói thời bao cấp. Sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa – miền Nam trước 1975 – bị miêu tả đơn thuần là một “chế độ bù nhìn của đế quốc,” thay vì một quốc gia mà hàng triệu người từng tự hào gọi là quê hương trong suốt hai thập niên. Việc xóa bỏ di sản miền Nam là một cách để hợp thức hóa diễn ngôn chiến thắng của phe cộng sản. Các thế hệ học sinh ở Việt Nam lớn lên mà không hề biết về Hiệp định Genève năm 1954 đã chia đôi đất nước, cũng như không được học một cách công bằng về Chiến tranh Việt Nam – ngoài lối tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước.” Việc bóp méo và che giấu lịch sử là một mất mát văn hóa nghiêm trọng – nó tước đoạt của thế hệ trẻ quyền được hiểu về một quá khứ đa nguyên, và quyền xây dựng một bản sắc dân tộc dựa trên sự thật.
Tàn phá các di tích lịch sử:
Cộng sản Việt Nam nhiều lần chủ trương hủy diệt các biểu tượng vật chất của “xã hội cũ.” Ở miền Bắc, sau năm 1954, nhiều công trình kiến trúc thời Pháp thuộc, thư viện, tượng đài đã bị phá hủy. Sau năm 1975, tại miền Nam, khuynh hướng này càng mang tính hằn học, trả thù. Một trong những ví dụ đau lòng nhất là số phận của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa – nơi an nghỉ của khoảng 16.000 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì bảo vệ nền tự do của miền Nam. Nghĩa trang thiêng liêng này – tương tự như Arlington của Hoa Kỳ – đã bị bức hại sau ngày cộng sản “tiếp quản”. Các bia mộ bị đập phá, mồ mả bị đào xới, bức tượng người lính uy nghiêm ở cổng nghĩa trang bị giật sập. Nhà cầm quyền còn cho trồng cây phủ lên phần lớn khu nghĩa trang để xóa dấu tích khỏi tầm nhìn công chúng.
Một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa nói: “Sau khi cộng sản chiếm được miền Nam, họ hủy hoại tất cả… Mục tiêu rất rõ ràng: xóa chúng tôi khỏi lịch sử.” Một sử gia người Úc xác nhận: “Các nghĩa trang quân đội miền Nam bị nhà cầm quyền ủi sập bằng xe ủi.” Gia đình các tử sĩ không được phép vào chăm sóc mộ phần; suốt hàng chục năm, nơi này bị bỏ hoang, cỏ dại mọc um tùm. Mãi đến những năm gần đây, nhờ áp lực vận động từ người Việt hải ngoại, một số nỗ lực phục hồi nhỏ mới bắt đầu xuất hiện.
Vô số đài tưởng niệm, tượng đài, công trình kiến trúc gắn liền với miền Nam cũng đã bị phá bỏ hoặc bị cưỡng chiếm. Dinh Độc Lập – biểu tượng của chính thể Việt Nam Cộng Hòa – bị đổi tên thành “Hội Trường Thống Nhất” và biến thành bảo tàng tuyên truyền. Tên đường phố vinh danh các anh hùng miền Nam hay các văn nghệ sĩ Pháp đều bị thay bằng tên gọi “cách mạng.” Ngay cả tại cố đô Huế, nơi hội tụ tinh hoa văn hóa cổ truyền, cộng sản cũng thể hiện sự coi thường di sản. Trong cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân 1968, lực lượng Việt Cộng đã chiếm đóng thành phố và tàn sát hàng ngàn thường dân. Trận đánh sau đó cũng phá hủy hàng loạt chùa chiền, công trình cổ. Sau chiến tranh, các ngôi mộ tập thể lại bị san bằng để che dấu vết tích của cuộc thảm sát.
Tuy một phần tổn thất đến từ chiến tranh, nhưng chính sách “tẩy xóa văn hóa” sau 1975 là hành vi có chủ đích: mọi thứ không phù hợp với lăng kính tuyên truyền của Đảng đã bị hoặc đều có nguy cơ bị xóa sổ.
Bách hại tôn giáo:
Không nơi nào bị ảnh hưởng văn hóa và đạo đức sâu sắc hơn bởi sự cai trị cộng sản bằng lĩnh vực tự do tôn giáo. Việt Nam vốn là một quốc gia đa tín ngưỡng – với Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi Giáo và các tín ngưỡng dân gian. Nhưng dưới chế độ cộng sản, tất cả các tôn giáo này đều bị can thiệp, cưỡng chế hoặc đàn áp một cách có hệ thống. Mục tiêu của nhà nước cộng sản là biến tôn giáo thành công cụ phục vụ Đảng – nếu không thì phải bị dập tắt hoàn toàn.
Một trong những trường hợp nghiêm trọng nhất là việc đàn áp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). GHPGVNTN là tổ chức Phật Giáo lớn nhất tại miền Nam trước năm 1975, được lãnh đạo bởi các vị cao tăng khả kính như Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ. Sau 1975, nhà cầm quyền cộng sản tuyên bố giải tán GHPGVNTN vào năm 1981 vì tổ chức này từ chối đặt dưới quyền kiểm soát của nhà nước. Thay vào đó, nhà cầm quyền dựng nên một Giáo hội Phật Giáo quốc doanh và buộc toàn thể tăng ni phải gia nhập. Khi các vị lãnh đạo GHPGVNTN lên tiếng phản đối – chẳng hạn như Hòa Thượng Huyền Quang vào năm 1992 gửi thư phản đối việc cấm đoán GHPGVNTN và chiếm dụng chùa chiền – thì nhà cầm quyền lập tức trấn áp. Hai vị Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ bị bắt và đày đi ở những nơi hẻo lánh từ năm 1982. Các ngôi chùa trực thuộc GHPGVNTN bị theo dõi, phá phách, và các hoạt động từ thiện hay sinh hoạt tôn giáo độc lập đều bị coi là bất hợp pháp. Hòa Thượng Thích Thiện Minh – một lãnh đạo khác của GHPGVNTN – bị tra tấn đến chết trong nhà tù. Tới giữa thập niên 1990, hầu như mọi hoạt động Phật Giáo độc lập đều bị xóa sổ. Chư Tăng bị bắt giam chỉ vì phát chẩn gạo cứu trợ dưới danh nghĩa GHPGVNTN. Đến nay, Giáo Hội vẫn bị cấm hoạt động, và Hòa Thượng Thích Quảng Độ – vị Đệ Ngũ Tăng Thống – đã viên tịch vào năm 2020 sau cả một đời sống trong tù đày, nhưng vẫn bất khuất với niềm tin vào tương lai của dân tộc và đạo pháp. Cuộc đàn áp GHPGVNTN – một tổ chức tôn giáo ôn hòa – cho thấy rằng ngay cả Phật Giáo, tôn giáo truyền thống lớn nhất của Việt Nam, cũng bị coi là mối đe dọa nếu không nằm dưới gọng kìm kiểm soát của Đảng.
Thiên Chúa Giáo và Tin Lành cũng là mục tiêu bị đàn áp, tuy hình thức có phần khác biệt. Giáo Hội Thiên Chúa Giáo, với tư cách là một định chế toàn cầu, không bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, nhưng nhà nước cộng sản kiểm soát chặt chẽ việc bổ nhiệm giám mục. Những linh mục dám công khai cổ xúy nhân quyền – như Linh Mục Nguyễn Văn Lý – đã nhiều lần bị bắt giam. Hình ảnh cha Lý bị bịt miệng ngay trong phiên tòa năm 2007 từng gây chấn động thế giới.
Nhà cầm quyền cộng sản cũng chiếm dụng cơ sở nhà thờ, sách nhiễu những giáo dân tranh đấu cho tự do tôn giáo. Giáo Hội Tin Lành, đặc biệt tại các vùng dân tộc thiểu số, bị đàn áp một cách khốc liệt. Tại vùng Tây Nguyên, các sắc dân bản địa như người Thượng (Montagnard/Degar) – nhiều người trong số họ đã theo đạo Tin Lành trong thời chiến – phải đối diện với bách hại văn hóa và tôn giáo.
Nhà cầm quyền Hà Nội xem người Thượng như một mối đe dọa do họ có bản sắc văn hóa riêng biệt và từng liên minh với quân đội Hoa Kỳ. Để triệt tiêu tinh thần tự trị của họ, nhà cầm quyền đã cho di dân người Kinh lên định cư hàng loạt, đồng thời tìm cách xóa nhòa bản sắc dân tộc. Nhiều tín đồ Tin Lành người Thượng từ chối gia nhập Hội thánh do nhà nước kiểm soát, và thay vào đó tổ chức các buổi lễ tại các “nhà thờ tư gia” độc lập.
Phản ứng của nhà nước? Công an đột kích các buổi cầu nguyện, đóng cửa nhà thờ, và cưỡng bức tín đồ phải “bỏ đạo.” Vào tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004, hàng ngàn người Thượng đã xuống đường biểu tình ôn hòa tại Tây Nguyên để phản đối việc tước đoạt đất đai tổ tiên và đàn áp tôn giáo. Phản ứng của nhà cầm quyền là điều động quân đội và công an đàn áp với súng và dùi cui.
Vào dịp Lễ Phục Sinh năm 2004, có đến 10 người biểu tình bị giết khi quân đội trấn áp các cuộc cầu nguyện công khai. Sau đó là làn sóng bắt bớ khổng lồ – hàng trăm người Thượng bị giam giữ và nhiều người bị kết án từ 13 tới 17 năm tù, chỉ vì tham gia biểu tình hay tìm cách vượt biên sang Campuchia xin tị nạn. Human Rights Watch ghi nhận rằng trong giai đoạn 2001–2006, có hơn 250 tín đồ Tin Lành người Thượng bị kết án tù vì “sinh hoạt tôn giáo trái phép” hoặc các hành vi phản kháng ôn hòa. Tình trạng tra tấn tù nhân người Thượng cũng đã được các tổ chức nhân quyền quốc tế ghi nhận. Nhà cầm quyền thường viện lý do “ly khai” để biện minh, nhưng thực chất là đang cố tiêu diệt văn hóa người Thượng – từ ngôn ngữ, quyền sử dụng đất đai, đến đức tin của họ. Cuộc khủng hoảng người Thượng là minh chứng rõ nét cho chính sách của chế độ cộng sản đối với các sắc dân và tôn giáo thiểu số – một chính sách có dấu hiệu diệt chủng văn hóa.
Không chỉ Phật Giáo hay Thiên Chúa Giáo bị nhắm đến. Các tôn giáo khác cũng chịu đàn áp: Hòa Hảo, một giáo phái Phật Giáo phổ biến tại miền Tây Nam Bộ, từng bị cấm hoạt động nhiều năm và chỉ được phép tồn tại dưới hình thức quốc doanh, trong khi các vị giáo sĩ độc lập bị bắt giữ. Cao Đài cũng bị cưỡng ép phải chấp nhận ban lãnh đạo do nhà nước dựng nên. Các tín ngưỡng dân gian, như đạo Mẫu hay tín ngưỡng người Khmer Krom, Chăm và các sắc tộc khác, bị gạt ra ngoài lề xã hội hoặc bị biến dạng. Tổng thể, một đất nước vốn có đời sống tâm linh phong phú và đa dạng như Việt Nam đã trở nên đơn điệu, bị khủng b và mất tự do dưới sự cai trị của Đảng cộng sản. Mặc dù nhà cầm quyền luôn tuyên bố rằng họ “tôn trọng tự do tôn giáo,” trên thực tế, họ muốn tất cả các tôn giáo phải quy phục Đảng như một “quốc giáo tối thượng.”
Tẩy não và nhồi sọ tư tưởng:
Ngay từ thuở ấu thơ, người dân Việt Nam dưới chế độ cộng sản đã bị áp đặt dưới một chế độ tuyên truyền liên tục. Các bài hát, phim hoạt họa, và bài học ở trường đều ca ngợi “Cách mạng” và Đảng. Trong trường học, học sinh được dạy đọc thuộc các khẩu hiệu như “Đảng Cộng Sản vinh quang.” Các tiết học lịch sử đơn giản hóa những biến cố phức tạp thành những câu chuyện một chiều: cộng sản là anh hùng, “phản động” là ác độc. Không có tự do học thuật – giảng viên đại học có thể bị sa thải, thậm chí bị bắt giam nếu họ đặt nghi vấn về chủ nghĩa Mác–Lê hay đường lối của Đảng. Thay vì khuyến khích tư duy phản biện, hệ thống giáo dục nhồi nhét sự phục tùng và tuân thủ mù quáng. Sự “trói buộc trí tuệ” này là một bi kịch văn hóa: nó đã tạo ra nhiều thế hệ người dân hoặc chỉ biết một “chân lý” do Đảng định sẵn, hoặc phải sống hai mặt – một khuôn mặt công khai để nói điều “phải phép,” và một khuôn mặt kín đáo trong chỗ gia đình, nơi họ mới dám chia sẻ những suy nghĩ thật sự. Chính sự đạo đức giả đó đã bào mòn nền tảng đạo lý của xã hội. Nhiều người trẻ ở Việt Nam hôm nay cảm thấy một nỗi hoang mang về bản sắc: không biết phải tin ai, tin điều gì – vì toàn bộ quá trình trưởng thành của họ là một chuỗi những kinh nghiệm “lọc qua lăng kính của Đảng.”
Tổng kết lại, nền văn hóa của tám mươi năm cộng sản trị tại Việt Nam là một di sản đắng cay và đau đớn. Chế độ đã nhổ bật gốc rễ truyền thống, bịt miệng những phát ngôn, và cố gắng nhào nặn một xã hội từ chỗ đa nguyên phong phú thành một hợp xướng đơn điệu chỉ biết ca ngợi Đảng. Tuy nhiên, họ đã không thành công trong việc dập tắt linh hồn Việt Nam – bởi chúng ta vẫn thấy linh hồn ấy sống động trong những vần thơ viết lén, trong những buổi lễ âm thầm trong tư gia, trong cách thức các gia đình vẫn ôn lại sự thật qua những lời tâm sự nhẹ nhàng. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận những tổn thất: một thế hệ ở miền Bắc lớn lên mà chưa từng được nghe một bản nhạc tự do hay đọc một cuốn sách không bị kiểm duyệt; một thế hệ ở miền Nam mất nước, mất quốc kỳ, và mất những định chế văn hóa từng là niềm tự hào của họ. Chùa chiền, nhà thờ, và nghĩa trang bị xúc phạm hoặc bị kiểm soát. Di sản bị thay thế bằng tuyên truyền; đức tin bị thay thế bằng nỗi sợ hãi. Tuy nhiên, khi tưởng niệm những mất mát ấy, chúng ta cũng đồng thời vinh danh những con người can trường trong lĩnh vực văn hóa và tôn giáo – những nhà văn, thi sĩ, tu sĩ, linh mục, nghệ sĩ – đã dũng cảm gìn giữ những gì có thể gìn giữ. Họ là minh chứng sống cho thấy: tinh thần Việt Nam có thể bị tổn thương, nhưng chưa bao giờ bị khuất phục.
Các Trường Hợp Tiêu Biểu Về Lòng Can Đảm và Nỗi Đau Dưới Chế Độ Cộng Sản
Để cụ thể hóa những phân tích về tám mươi năm cộng sản trị, chúng tôi xin nêu bật một số nhân vật và biến cố tiêu biểu – những cái tên và câu chuyện gói trọn các chủ đề lớn về đàn áp, đấu tranh và sức sống kiên cường:
- Hòa Thượng Thích Quảng Độ (1928–2020): Là một tu sĩ và trí thức Phật Giáo, Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã trải qua hơn 30 năm bị quản thúc và tù đày vì từ chối để nhà cầm quyền kiểm soát tôn giáo. Là Đệ Ngũ Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) – tổ chức bị cấm hoạt động từ năm 1981 – ngài vẫn tiếp tục lên tiếng đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền dù bị theo dõi gắt gao. Năm 2006, ngài được trao Giải Rafto về nhân quyền, nhưng không được phép rời khỏi nước để nhận giải. Dù bị giam lỏng, ngài vẫn bí mật gửi ra ngoài các bức thư kêu gọi cải tổ dân chủ. Hòa Thượng viên tịch tại Sài Gòn năm 2020, dưới sự giám sát của công an. Nhà cầm quyền không cho tổ chức tang lễ công khai – vì sợ sự kính trọng mà quần chúng dành cho Hòa Thượng. Nhưng di sản của ngài vẫn sống mãi trong lòng những ai tin rằng sự trung thành với chân lý cao hơn mọi sự trung thành chính trị.
- Các cộng đồng Tin Lành người Thượng: Hãy xét trường hợp một người đàn ông người Thượng ở tỉnh Gia Lai (xin giấu tên vì lý do an toàn). Tháng 4 năm 2004, ông tham gia cùng hàng ngàn người trong một buổi lễ Phục Sinh để cầu nguyện và phản đối việc chiếm đất và đàn áp tôn giáo. Ông tận mắt chứng kiến cảnh lực lượng an ninh nổ súng và đánh đập người biểu tình bằng dùi cui điện. Ông trốn vào rừng rồi vượt biên sang Campuchia, nhưng sau đó bị cưỡng bức hồi hương theo một thỏa thuận ngầm. Khi về nước, ông bị bắt giam và tra tấn để ép bỏ đạo và tố cáo những người khác. Ít nhất 10 người Thượng bị giết trong cuộc đàn áp năm 2004, và ông biết rõ hai người trong số đó. Sau khi được thả, ông vẫn bị giám sát, buộc phải trình diện công an thường xuyên. Nhà thờ làng ông bị ủi sập; việc thờ phượng buộc phải chuyển xuống hầm trú. Thế nhưng ông và đồng đạo vẫn cương quyết giữ vững niềm tin. Sự kiên cường của họ là biểu tượng cho sức sống bất khuất của các dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo trước nguy cơ bị diệt chủng văn hóa.
- Xuất khẩu lao động cưỡng bức – Nô lệ hiện đại: Trường hợp của “Anh,” một cô gái trẻ ở Nghệ An, phản ánh một hiện tượng phổ biến. Như nhiều người khác từ các làng quê nghèo, cô được nhà cầm quyền địa phương khuyến khích ghi danh chương trình xuất khẩu lao động để làm việc ở nước ngoài. Cô phải trả một khoản phí môi giới rất lớn (thường là vay nặng lãi) cho một công ty nhà nước. Khi đến nơi, cô phát hiện điều kiện làm việc khắc nghiệt: làm việc 12 tiếng mỗi ngày, bị giữ hộ chiếu, và tiền lương bị cắt giảm gần hết để trả nợ môi giới. Cô rơi vào tình trạng nô lệ nợ – một hình thức nô lệ hiện đại. Có hàng trăm ngàn người như “Anh.” Từ thập niên 1980, nhà cầm quyền Việt Nam đã khuyến khích xuất khẩu lao động để thu ngoại tệ, nhưng các cơ quan nhà nước đã lợi dụng bằng cách thu phí quá mức và giam giữ công dân trong lao động cưỡng bức. Năm 2019, thế giới rúng động với thảm kịch ở Anh: 39 người Việt chết ngạt trong thùng xe đông lạnh khi bị buôn lậu vào nước này – họ là nạn nhân của nạn buôn người, nhưng cũng là nạn nhân của một hệ thống trong nước không cho họ con đường sống. Đây là cái giá nhân đạo phải trả cho một chế độ thất bại trong việc tạo cơ hội cho tuổi trẻ, và biến công dân thành “hàng hóa lao động” xuất khẩu. Đó là một thảm kịch âm thầm hơn chiến tranh, nhưng mỗi lao động bị bóc lột là một câu chuyện về nhân phẩm bị cướp đoạt.
- Phạm Đoan Trang (sinh năm 1978): Một tiếng nói bất khuất của thế hệ tranh đấu hiện nay, Phạm Đoan Trang là một nhà báo, blogger và tác giả nữ từng viết các sách samizdat như Chính trị bình dân. Dù thường xuyên bị sách nhiễu, cô vẫn quyết ở lại Việt Nam để chiến đấu bằng ngòi bút. Năm 2020, cô bị bắt và sau đó bị tuyên án 9 năm tù vì “tuyên truyền chống nhà nước.” Phiên tòa diễn ra kín, không cho công chúng tham dự. Các tổ chức quốc tế – từ Liên Hiệp Quốc đến các chính phủ dân chủ – đều kêu gọi trả tự do cho cô, nhưng cô vẫn đang bị giam giữ. Phạm Đoan Trang đại diện cho lớp trí thức trẻ Việt Nam đã nhìn thấu bộ mặt thật của chế độ và dám hy sinh tự do cá nhân để nói lên sự thật. Sự can đảm của cô tiếp tục truyền cảm hứng cho nhiều người trong nước, và sự giam cầm cô nhắc nhở cộng đồng hải ngoại rằng chúng ta phải là tiếng nói thay cho cô ở bên ngoài.
Mỗi trường hợp nêu trên – và còn vô số những câu chuyện khác mà thời gian không cho phép trình bày – là minh chứng cụ thể cho bản chất phi nhân đạo của sự cai trị cộng sản. Đây không chỉ là những con số thống kê hay chính sách trừu tượng, mà là những cuộc đời bị tàn phá: những làng quê bị khủng bố lúc rạng sáng; những tu sĩ chết trong quản thúc; những sắc dân thiểu số giữ đạo trong bí mật; những thanh niên liều mạng tìm đường sống; những văn nghệ sĩ mòn mỏi trong lao tù vì một câu chữ. Khi chúng ta nói “tám mươi năm cộng sản trị,” đó là tám mươi năm của máu, nước mắt và hy vọng của những con người. Những nhân vật mà chúng ta nêu không chỉ là nạn nhân – họ còn là anh hùng, là những con người kiên cường, biết phản kháng, biết sống còn, và nhất là biết không quên.
Lời Kêu Gọi Cho Tự Do và Công Lý
Kính thưa quý vị, anh chị em trong cộng đồng người Việt hải ngoại:
Khi chúng ta cùng nhìn lại tám mươi năm cộng sản cai trị đất nước, bức tranh hiện ra thật rõ ràng: Hậu quả thật là khốc liệt – một quốc gia bị xiềng xích về chính trị, bị đẩy vào nghèo đói, bị làm thương tổn trong tinh thần và văn hóa. Di sản của nó cũng không kém phần bi thảm – các thế hệ bị chấn thương bởi chiến tranh và “trại cải tạo”, một quê hương bị bao phủ bởi nỗi sợ hãi và kiểm duyệt, một cộng đồng tị nạn hình thành từ những đợt vượt biển và đàn áp, và một ý chí bất khuất không cho phép ngọn lửa tự do bị tắt.
Tại sao chúng ta phải kể lại những nỗi đau ấy hôm nay? Không phải để sống mãi trong quá khứ hay khơi dậy hận thù, mà để học hỏi và hành động. Nỗi khổ của cha ông ta trong những năm tháng cộng sản, và nỗi khổ đang tiếp diễn ngay lúc này cho những người bất đồng chính kiến và dân lành trong nước, không được phép trở nên vô nghĩa. Chúng ta – những người may mắn sống trong thế giới tự do – có trách nhiệm lên tiếng thay cho những người đang bị bịt miệng.
Thứ nhất, chúng ta phải ghi nhớ.
Đảng Cộng sản đã nỗ lực xóa bỏ hoặc bôi trắng nhiều sự thật lịch sử – trách nhiệm giữ gìn ký ức thuộc về chúng ta. Hãy kể lại cho con cháu về những biến cố 1945, 1954, 1975, và tất cả những chặng đường đã đưa chúng ta đến cảnh lưu vong. Hãy trân quý lá cờ vàng ba sọc đỏ – di sản của Việt Nam Cộng Hòa – bị cấm đoán trong nước nhưng tung bay tự do tại hải ngoại, như một biểu tượng không bị khuất phục. Ghi nhớ là một hành vi phản kháng.
Thứ hai, chúng ta phải vận động.
Hãy sử dụng tiếng nói của chúng ta trên trường quốc tế để tố cáo các vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Vận động các dân biểu, ủng hộ các đạo luật như Vietnam Human Rights Act, cộng tác với các tổ chức nhân quyền quốc tế như một số nhóm người Việt đã và đang làm. Khi các tù nhân chính trị như Phạm Đoan Trang hay các nạn nhân như dân làng Đồng Tâm bị đàn áp, chúng ta phải lên tiếng đòi công lý cho họ. Sự chú ý và đoàn kết của thế giới có thể cứu sống mạng người, và chế độ độc tài luôn sợ bị phơi bày trước ánh sáng. Chúng ta hãy là tiếng nói cho những người bị bịt miệng.
Thứ ba, chúng ta phải hỗ trợ các nạn nhân.
Dù sống lưu vong, cộng đồng người Việt đã vươn lên mạnh mẽ ở nhiều nơi. Chúng ta có thể chia sẻ phần nào sự thành đạt đó để giúp những người bị bỏ lại phía sau: ủng hộ các tổ chức trợ giúp nạn nhân và gia đình tù nhân lương tâm, yểm trợ các đài phát thanh tự do, những kênh truyền thông đấu tranh – vốn là những nguồn thông tin không bị kiểm duyệt được đồng bào trong nước bí mật theo dõi.
Cuối cùng, chúng ta phải đoàn kết và giữ vững niềm hy vọng.
Chế độ cộng sản đã tồn tại 80 năm – một khoảng thời gian dài – nhưng không có gì là vĩnh viễn. Chúng ta đã chứng kiến những chế độ độc tài tưởng như không thể sụp đổ ở Đông Âu hay Á Châu bị lật đổ khi khát vọng tự do của người dân đạt đến điểm bùng phát. Chúng ta phải sẵn sàng để tiếp tay khi Việt Nam chuyển mình. Sự đoàn kết trong cộng đồng hải ngoại là điều thiết yếu – dẫu có khác biệt vùng miền, thế hệ, hay lập trường, chúng ta vẫn cùng mơ về một nước Việt Nam tự do, nơi quyền con người được bảo đảm và mọi công dân – từ Kinh đến Thượng, từ Phật tử đến Kitô hữu hay người không tôn giáo – được sống không còn sợ hãi.
Kết luận
Chúng ta hãy nghiêng mình tưởng niệm những người đã mất và đã chịu khổ đau trong 80 năm cộng sản trị – các tù nhân, các liệt sĩ, các thuyền nhân vùi xác giữa đại dương, các em bé chết đói, những người mẹ khóc thầm, những người lính hy sinh, và những người anh hùng đã đứng lên chống bạo quyền bằng chính mạng sống và tự do của họ. Chúng ta mang ơn họ và có bổn phận tiếp tục lý tưởng mà họ đã sống và chết vì nó.
Tám mươi năm là quá đủ. Đã đến lúc phải chấm dứt chế độ cộng sản tại Việt Nam, trả quyền tự quyết về tay người dân. Với tư cách là những người Việt lưu vong, chúng ta kêu gọi cộng đồng quốc tế và đồng bào ở khắp nơi ủng hộ cuộc đấu tranh cho tự do và công lý. Hãy lan truyền sự thật, đánh thức lương tri thế giới, và chuẩn bị cho ngày mai – ngày mà người dân Việt Nam có thể chuyển hóa đất nước sang một thể chế khác tôn trọng nhân quyền và phẩm giá con người.
Đừng để thế hệ mai sau phải tổ chức thêm hội thảo “90 năm cộng sản cai trị.” Hãy cùng nhau hành động để trong tương lai gần, chúng ta có thể tổ chức lễ mừng cho những năm đầu tiên của một nước Việt Nam tự do. Và vào ngày ấy, chúng ta sẽ không còn cần hội trường lưu vong – mà sẽ tụ họp tại Sài Gòn, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ – khắp mọi miền quê hương – để tưởng niệm quá khứ trong trang nghiêm và đón chào một bình minh mới trong niềm hân hoan phục quốc.
Xin cảm ơn quý vị đã có mặt, đã ghi nhớ, và đã không từ bỏ niềm hy vọng. Lịch sử đang theo dõi, và anh linh tiền nhân cùng các nạn nhân của 80 năm qua đang thôi thúc chúng ta tiến bước. Nhân danh họ, và vì hàng triệu đồng bào trong nước đang mơ về một ngày mai tốt đẹp, chúng ta hãy nguyện thề tiếp tục cuộc hành trình vì tự do.
Việt Nam muôn năm!
Tài Liệu Tham Khảo
- Human Rights Watch. Vietnam: Crackdown on Dissent Intensifies. Human Rights Watch, 21 Apr. 2025. PDF report. https://www.hrw.org/news/2025/
04/21/vietnam-crackdown- dissent-intensifies - Human Rights Watch. World Report 2024: Vietnam. Human Rights Watch, Jan. 2024. https://www.hrw.org/world-
report/2024/country-chapters/ vietnam - Human Rights Watch. “Vietnam—Repression Deepens Under New Leader.” Human Rights Watch News, 16 Jan. 2025. https://www.hrw.org/news/2025/
01/16/vietnam-repression- deepens-under-new-leader - Human Rights Watch. “Submission to the European Union Ahead of the EU–Vietnam Human Rights Dialogue.” Human Rights Watch News, 20 June 2025. https://www.hrw.org/news/2025/
06/20/human-rights-watch- submission-to-the-european- union-ahead-of-the-eu-vietnam- human - “From Collectivization to Poverty: Natives and State-Owned Enterprises in Vietnam’s Central Highlands.” ResearchGate, 2008. https://www.researchgate.net/
publication/281300244_From_ collectivization_to_poverty_ natives_and_state-owned_ enterprises_in_Vietnam%27s_ central_Highlands - “Economic History of Vietnam.” Wikipedia, Wikimedia Foundation, updated 2025. https://en.wikipedia.org/wiki/
Economic_history_of_Vietnam - “Đổi Mới.” Wikipedia, Wikimedia Foundation, updated May 2025. https://en.wikipedia.org/wiki/
%C4%90%E1%BB%95i_M%E1%BB%9Bi - Szalontai, Balázs. “Political and Economic Crisis in North Vietnam, 1955–56.” Cold War History, vol. 5, no. 4, 2005, pp. 397–418. (cited via online summary)
- “Land Reform in Vietnam.” Wikipedia, Wikimedia Foundation, updated July 2025. https://en.wikipedia.org/wiki/
Land_reform_in_Vietnam - “Persecution of the Montagnard in Vietnam.” Wikipedia, Wikimedia Foundation, updated July 2025. https://en.wikipedia.org/wiki/
Persecution_of_the_Montagnard_ in_Vietnam - “Human rights in Vietnam.” Wikipedia, Wikimedia Foundation, updated (2005–2025)
No comments:
Post a Comment