Phim
Lều Chõng
Mạn Đàm
Ngày xưa, các
bậc Vua chúa thường tuyển chọn người tài bằng các cuộc thi. Đề thi do Vua ra.
Bài làm của các thí sinh đều luận bàn những vấn đề lớn, ở tầm quốc gia. Rồi căn
cứ kết quả của cuộc thi mà chọn ra những ông Trạng, ông Nghè, rồi tùy theo tài
năng của từng người mà bổ nhiệm các chức sắc.
Bây giờ,
giá như chúng ta cũng tuyển chọn những người tài để bổ nhiệm chức vụ cán bộ bằng
các cuộc thi như thế. Đề thi cũng là những vấn đề vĩ mô ở tầm quốc gia. Ví như
làm thế nào để chống được tham nhũng. Giải pháp xóa ùn tắc và hạn chế tai nạn
giao thông. Những kế sách chấn hưng đất nước. Bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ.
Giải quyết những vấn đề phức tạp ở biển Đông. Rồi đối nội, đối ngoại... Bằng
cách làm cổ xưa như trái đất ấy, biết đâu, chúng ta sẽ tìm được rất nhiều người
tài vẫn còn lẩn khuất ở trong dân.
Đọc đến
đây, chắc bạn sẽ mỉm cười. Bạn này dở hơi thật rồi! Thời công nghệ hiện đại,
sao lại còn lọ mọ như thế. Ngày xưa thi rồi mới cử. Bây giờ, ta cứ cử rồi mới
thi. Cứ đảm trách công việc đã. Rồi phổ cập thạc sĩ, tiến sĩ sau. Có người, một
năm, vừa làm, vừa tung tẩy đi mấy nước, đi nước ngoài bằng tiền của dân cứ như
đi chợ mà vẫn «phổ cập» được đến mấy cấp. Không biết học lúc nào. Tài thật.
Có lẽ học dọc đường chăng? Nhưng cũng có người đâu có cần học. Thay cho học thật,
họ lại dùng những tấm bằng giả.
Việc mua
bán bằng giả đã trở thành một nỗi nhức nhối, dẫn đến sự lộn xộn, mất lòng tin
vì thật giả lẫn lộn, chẳng còn biết đâu mà lần. Và rồi toé loe ra, qua các
phương tiện truyền thông, người ta không thể ngờ được rằng, một trong những điểm
«sản xuất» bằng giả lại là một quán trọ sinh viên. Chủ nhân của
những tấm bằng giả đó lại là mấy anh chàng học trò tỉnh lẻ. Đủ các loại bằng được
«sản xuất» thủ công. Vậy mà rất tinh vi và kỹ xảo. Giá cũng đâu
có đắt, chỉ vài triệu đồng, để ai cũng có thể mua được. Không biết bao nhiêu những
tấm bằng «ma» với giá bình dân như thế đã tung ra ngoài đời sống
xã hội. Người thật, bằng giả. Rồi lại còn cái nạn người giả mà bằng thật. Con số
này cũng không phải ít.
Tất nhiên,
cái nạn «bằng thật người giả» này, nếu chỉ là các «ông cử», «bà cử», các «chuyên gia» của các chuyên ngành ở trong khối cơ quan nhà nước, các
công ty, xí nghiệp thì sự tác hại còn âm ỉ kéo dài, không dễ mà thấy ngay được.
Thí dụ: những người giả có bằng thật lại
điều khiển xe cộ trong ngành vận chuyển giao thông thì ta có thể thấy ngay
và phải trả giá nhỡn tiền. Mà giá đắt. Vì đó là những mạng người vô tội. Ngày
nào cũng có hàng trăm vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Nhiều chiếc xe đã trở
thành hung thần vì cán chết đến cả chục người một lúc. Có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến những vụ tai nạn thảm khốc, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản vẫn
là do người điều khiển phương tiện không có đủ khả năng tối thiểu. Việc cấp bằng,
bán bằng cho những người như thế có thể xem như một tội ác. Chừng nào còn tệ nạn
mua bằng, bán bằng hoặc vô trách nhiệm trong việc cấp bằng thì đừng bao giờ hy
vọng chúng ta có thể tránh được những tai nạn thảm khốc. Và những tai nạn ấy
không phải chỉ diễn ra trong lĩnh vực giao thông...
Thi Hương
Thi Hương
là một khoa thi liên tỉnh, theo lệ 3 năm tổ chức 1 lần về nho học do triều đình
phong kiến tổ chức để tuyển chọn người có tài, học rộng và bổ nhiệm làm quan.
Sau khi đỗ Cống sĩ thì năm sau mới được dự thi kỳ thi cao cấp hơn là thi Hội,
và nếu đậu thi Hội sẽ vào xếp hạng Tiến sĩ khi thi Đình.
Thi Hương
được tổ chức tại các trường thi, nhiều tỉnh thi chung 1 trường, chẳng hạn khoa
thi năm 1813 tại trường Quảng Đức có 8 tỉnh-chỉ lấy đỗ 9 người[2]. Tùy theo
khoa thi, nhưng số lượng lấy đỗ khá ít đỗ tứ trường gọi là Cống sĩ, thí sinh đỗ
đầu khoa thi Hương gọi là Giải nguyên. Nếu đỗ cả ba kỳ gọi là trúng tam trường,
có tên là Sinh đồ (hoặc triều Nguyễn gọi là Tú tài), vì số lượng lấy ít như vậy
nên đó là vinh dự lớn. Cống sĩ được bổ nhiệm làm quan, Sinh đồ (hoặc Tú tài) đủ
tư cách đi dạy học gọi là ông đồ. Chỉ có Cống sĩ mới được tham dự tiếp thi Hội.
Thể
lệ
Một người
thường dân muốn dự thi Hương phải qua hai điều kiện (gọi là Khảo hạch):
Phải có đạo
đức tốt và lý lịch trong sạch. Bản khai lý lịch này phải được xã trưởng và quan
địa phương xác nhận.
Phải có
trình độ học lực: trình độ học lực lúc đầu được kiểm tra bằng một đợt thi liền
với khoa thi Hương nhưng không tính vào nội dung thi Hương. Đây là kỳ thi ám tả
cổ văn, tức là kỳ thi sát hạch khả năng ghi nhớ bằng cách chép lại Tứ thư và
Ngũ kinh;[3] ai đỗ kỳ này mới được vào thi Hương. Vì đây là kỳ thi sát hạch,
không phải là khoa thi chính, nên đỗ kỳ này chẳng có học vị gì, cả tỉnh cùng dự
thi, ai đỗ kỳ này cũng đã vinh dự lắm, nhất là đỗ đầu. Người đỗ đầu cả xứ được
tặng danh hiệu «đầu xứ» (về sau đỗ đầu tỉnh cũng được gọi là đầu xứ) gọi tắt
là «ông xứ» như: xứ Nhu (Nguyễn Khắc Nhu), xứ Tố (Ngô Tất Tố). Cả
hai ông xứ chỉ đỗ đầu xứ thôi, chẳng có học vị gì, nhưng thật là một nhà Nho
uyên thâm.[4]
Dưới thời
nhà Nguyễn thì tôn sinh (con cháu trong hoàng tộc), ấm sinh (con các quan), và
tú tài thì không phải qua phần khảo hạch. Những người qua được khảo hạch thì gọi
là khóa sinh. Khóa sinh sẽ thành thí sinh khi chứng thức đi thi.[5]
Theo
quy định từ năm 1434, thi Hương tương tự như thi Hội cũng có 4 kỳ hay còn gọi
là 4 trường.
Kỳ I thi
kinh nghĩa, thư nghĩa: giải thích ý nghĩa trong câu lấy từ Tứ thư, Ngũ kinh.
Bài thi phải viết theo lối biền văn - tức là có đối mà không cần vần, phần thi
này nhằm kiểm tra khả năng hiểu biết kinh truyện của sĩ tử;
Kỳ II thi
chiếu, chế, biểu: chiếu - lời vua nói, chế - vua phong thưởng cho công thần, biểu
- bài văn thần dân tạ ơn vua hoặc chúc mừng vua nhân dịp ngày lễ. Sĩ tử phải biết
lựa từng hoàn cảnh, từng đối tượng mà dùng giọng văn cho thích hợp. Đây là bài
thi kiểm tra khả năng soạn văn bản làm quan sau này;
Kỳ III thi
thơ phú: các bài thi được làm theo thể thất ngôn bát cú, phần thi này kiểm tra
khả năng làm thơ của sĩ tử bởi đây là một trong những sinh hoạt quan trọng của
tầng lớp trí thức;
Kỳ IV thi
văn sách: là bài văn trả lời câu hỏi về một vấn đề của đề bài. Phần thi nằm kiểm
tra khả năng biện bác, bàn luận vấn đề lịch sử và hiện tại của sĩ tử.
Tùy từng
triều đại mà nội dung thi có thể quy định và sắp xếp thứ tự khác nhau. Dưới triều
Hồ, thí sinh phải thi thêm kỳ 5 gồm môn ám tả (chính tả) và môn toán. Năm 1855,
nhà Nguyễn quy định thi Hương có 3 kỳ và một kỳ phúc hạch bằng thơ phú. Những
ai đỗ ở trường nhất mới được thi trường hai, rồi trường ba, trường bốn.
Cải
cách vào thế kỷ 20
Dưới nền Bảo
hộ của Pháp thì việc thi Hương có phần thay đổi. Kể từ khoa Kỷ Dậu 1909 thì nội
dung là:
Trường nhất:
năm đạo văn sách
Trường
nhì: thi, phú
Trường ba:
hai bài luận chữ Quốc ngữ
Đó là năm
đầu tiên chữ Quốc ngữ được dùng trong khoa cử.[6]
Khoa Nhâm
Tý 1912 thì lại đổi nữa, bỏ phân thi phú. Nội dung là:
Trường nhất:
năm đạo văn sách
Trường
nhì: hai bài luận chữ Hán
Trường ba:
hai bài luận chữ Quốc ngữ
Trường phúc
hạch: một bài văn sách, một bài luận Hán văn, và một bài luận Quốc ngữ.[6]
Chấm
điểm
Quan trường
chấm bài thi thì xếp các thí sinh theo hạng ưu (hạng nhất), bình (hạng nhì), thứ
(đủ để đỗ), và liệt (rớt). Đến năm Kỷ Dậu 1909 thì dùng thang 20 điểm. Từ 10 điểm
trở lên là đỗ.[6]
Trường
thi
Đề Điệu:
Chánh chủ khảo;
Giám Thí:
Phó chủ khảo;
Đồng khảo
thí: Chấm sơ khảo;
Khảo thí:
Chấm phúc khảo;
Đằng Lục:
Làm nhiệm vụ rọc phách, niêm phong;
Di Phong:
Thu nhận quyển thi của thí sinh;
Đối độc: Đọc
lại bài của Đằng Lục chép để đối chiếu với bài của thí sinh cho chính xác.
Trường thi
Hương một khu đất rộng được chia làm 4 khu vực (hay còn gọi là 4 vi): Giáp, Ất,
Bính, Đinh cắt theo hình chữ thập 十. Ở giữa
là Thập đạo có chòi canh để quan trường giám sát thí sinh ngồi thi. Ở hai bên
trái, phải có hai chòi để quan giám sát cả thí sinh lẫn quan trường. Mỗi cửa đốt
hai cây đuốc lớn (gọi là đình liệu) chiếu sáng rực cả trường thi. Xung quanh
trường thi được rào hai lần: một phên kín, một phên thưa đắp tường hào, cài
chông, có cả đội lính gác canh giữ.
Trình tự thi
Khoảng 20
ngày trước khi thi, thí sinh phải nộp 3 tập giấy bản mới: trang đầu ghi lý lịch,
địa chỉ, nghề nghiệp của bản thân và thế hệ trước cho Hội đồng thi (còn gọi là
nộp tuyển). Hai ngày trước khi thi thí sinh đến trường xem số báo danh để biết
vị trí ngồi và cửa vào. Từ nửa đêm hôm trước ngày thi, mỗi thí sinh vác một bộ
lều chõng, cổ đeo ống quyển, dầu (để thắp đèn), nước, vai mang tráp đựng thức
ăn, thức uống, đồ dùng trực sẵn ở cửa trường thi. Sau 3 hồi trống, các quan vào
vị trí đã định, lại phòng (giám thị) xướng danh nhận quyển cho thí sinh vào trường.
Thí sinh tìm chỗ chọn phần đất rồi tự đóng lều, dựng chõng, mài mực đợi đề thi.
Khi trời sáng rõ thì đầu bài được phát, đến trưa họ nộp quyển vào nhà Thập đạo
lấy dấu nhật trung và đến tối nộp lại quyển cho lại phòng đóng dấu của Hội đồng
thi. Làm bài xong thí sinh ra ngoài trường thi bằng cửa trước.
Xếp
hạng
Thi Hương gồm hai hạng:
Qua được 3
kỳ đầu (hay còn gọi là ba trường) thì đỗ cấp Tú tài (tức Sinh đồ, dân gian gọi
là ông Đồ, ông Tú).
Qua được cả
bốn kỳ thì đỗ cấp cử nhân (tức Hương cống - ông Cống, ông Cử)
Đỗ tú tài
thì không được triều đình bổ dụng nhưng đối với trong làng, trong tổng thì địa
vị đương sự thăng từ hạng thường dân lên hạng chức sắc, có chân trong hội đồng
kỳ mục, được miễn sưu dịch, và khi có cỗ bàn trong đình thì được ngồi chiếu
trên. Đỗ tứ trường (Cống sĩ) thì ngoài việc được phép dự thi Hội, còn được bổ
nhiệm làm quan trong những ngạch thuộc cửu phẩm, được vua ban áo mũ và làng xã
phải phục dịch đón tiếp vinh quy.
Lệ
vinh quy
Phần lễ
nghi xong thì các vị tân khoa sửa soạn về quê quán nhưng có sức về phủ, huyện,
xã để sửa soạn đón rước gọi là đám rước «vinh quy
bái tổ». Sinh đồ
thì hàng xã đón. Hương cống thì hàng tổng trở lên phải cung phụng linh đình,
xem như một vinh dự chung của cả làng. Gia đình quan thì cũng phải bỏ tiền làm
cỗ rất tốn kém để tiếp đón thân thuộc cùng các quan chức và ân nhân. Có nơi còn
dựng rạp và mướn gánh hát tuồng về diễn mua vui. Khách đến mừng thì tặng câu đối.[9]
Thi
hương qua các triều đại
Nhà Nguyễn
Khi vua
Nguyễn Thái Tổ thống nhất đất nước, tổ chức lại việc thi cử thì cũng cho mở
khoa thi hương. Khoa thi đầu tiên thời nhà Nguyễn tổ chức năm Đinh mão 1807
nhưng chỉ có ở Nghệ An, Thanh Hóa và Bắc Thành. Từ Quảng Bình trở vào nam không
có ai ứng thí. Mãi đến năm Quý dậu 1813 mới có khoa thi hương đầu tiên ở Huế và
Gia Định.[10]
Khoa cử cáo chung
Sang thời
Pháp thuộc, chính quyền Bảo hộ dần loại bỏ việc học chữ Nho. Ở Nam Kỳ ngay từ
năm 1878 thì chữ Quốc ngữ đã thành văn tự chính thức. Sang thế kỷ 20 Bắc Kỳ mở
khoa thi Hương cuối cùng năm 1915, còn khoa thi Hương cuối cùng ở Trung Kỳ là
năm 1918. Kỳ thi Hội cuối cùng là vào năm 1919.[11] Triều đình Huế từ đó không
dùng khoa cử làm cách tuyển chọn nhân sự nữa.[12]
Khoa thi
Hương năm Quý Mão 1903 có hơn 10.000 sĩ tử dự thí.[13] Đến năm Bính Ngọ triều
Thành Thái 1906 thì hơn sáu nghìn khóa sinh dự thí ở Nam Định. Đến năm Nhâm Tý
triều Duy Tân 1912 thì chỉ còn 1.330 người đi thi, phản ảnh sự tàn lụi của Nho
học ở Việt Nam, và theo đó khoa cử cũng chấm dứt.[12]
by RBP
Andy st
Chú thích
Hà Ngại.
Tiếng tiêu đồng, hồi ký một vị quan triều Nguyễn. TP HCM: Nhà xuất bản Trẻ,
2014.
1 Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Thi hương, tập thượng. Paris : An Tiêm, 2002. Trang 363.
2 Khoa thi
Hương, trường thi Quảng Đức 1813
3 «Tìm hiểu học vị xưa và nay.».
4 Sự hình
thành hai cấp thi và ba khoa thi chính quy về Nho học
5 Hà Ngại.
Tr 47
6 Hà Ngại.
Tr 46
7 «L'Examen des lettres au Tonkin ». Journal
des Voyages No 601. Paris ,
1889
8 Hà Ngại.
Tr 124-5.
9 Hà Ngại.
Tr 126-7.
10 Trần
Gia Phụng. Trung kỳ Dân biến 1908. Toronto :
Nhà xuất bản Non Nước, 2008. tr 23-24.
11 Xem:
[1]. Pierre Brocheux và Daniel Hémery. Indochina :
An Ambiguous Colonization, 1858-1954. Berkeley , CA : University
of California Press,
2009. tr 217-249
12 Foreign
Areas Studies Division. US Army Area Handbook for Vietnam . Washington , DC :
Special Operations Research Ofice, 1962. Tr 74
Khoa bảng Việt Nam
Chuyển tiếp.
Mới đây,
TT vừa coi xong bộ̣ phim Lều Chõng, được chuyển thể từ tiểu thuyết
cùng tên của Ngô Tất Tố. Chuyện phim kể về những sĩ tử trong khoa thi
cuối cùng dưới triều Nguyễn, dùi mài kinh sữ rồi lều chõng đi thi,
mong được rạng danh bảng vàng.
Khi xưa
lúc đọc truyện này, TT cứ thắc mắc, không tưởng tượng được nổi cảnh
học trò ngày xưa vác lều chỏng đi thi ra sao. Giờ xem phim mới thấy,
và thấy cả việc học hành, thi cử ngày xưa khó khăn ra sao. Ngoài ra
còn xem được cảnh làng quê, phong tục tập quán... của miền Bắc nói
rêng và của nước ta ngày xưa nói chung. TT rất thích và cảm động khi
xem phim nầy nên xin chuyển link phim lên DĐ để nếu rảnh, xin mời quý anh
chị và các bạn xem cho vui.
Bộ phim Lều
Chõng có 23 tập, mỗi tập dài khoảng 40 phút.
https://1951yen.blogspot.com/2019/05/phim-leu-chong.html
https://1951yen.blogspot.com/2019/05/phim-leu-chong.html
Xin chúc
an vui.
Thân
kính,
Tấn Thành
No comments:
Post a Comment