Việt Nam có thể học được gì từ lịch sử Hoa Kỳ?

Việt Nam có thể học được gì từ lịch sử Hoa Kỳ?

Nguyễn Chính Kết

Có một điều rất đáng cho người Việt Nam suy nghĩ: Hoa Kỳ là một quốc gia tương đối trẻ. Từ ngày tuyên bố độc lập năm 1776 đến nay mới chỉ khoảng hai thế kỷ rưỡi. So với lịch sử hàng ngàn năm của Trung Hoa, Ấn Độ hay Việt Nam, lịch sử Hoa Kỳ quả thật rất ngắn. Thế nhưng chỉ trong khoảng thời gian ấy, Hoa Kỳ đã từ một nước thuộc địa gồm 13 tiểu bang nhỏ bé ở ven Đại Tây Dương trở thành một trong những quốc gia giàu mạnh và có ảnh hưởng nhất thế giới.

Tại sao? Phải chăng vì nước Mỹ có đất đai rộng lớn, tài nguyên phong phú? Chắc chắn đó là một yếu tố quan trọng. Phải chăng vì nước Mỹ may mắn nằm giữa hai đại dương, tránh được nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc xảy ra trên chính lãnh thổ mình? Điều đó cũng đúng. Phải chăng vì nước Mỹ đã thu hút được hàng triệu người nhập cư đầy tài năng và nghị lực từ khắp nơi trên thế giới? Điều ấy lại càng đúng.

Nhưng tất cả những điều ấy vẫn chưa giải thích được hoàn toàn sự thành công của nước Mỹ. Bởi thế giới không thiếu những quốc gia có lãnh thổ rộng, dân số đông, tài nguyên phong phú. Và lịch sử cũng cho thấy tài nguyên thiên nhiên, tự nó, không bảo đảm một quốc gia sẽ trở nên giàu mạnh.

Vậy phải chăng còn có một nguyên nhân nào sâu xa hơn?

Theo tôi, muốn hiểu sự thành công của Hoa Kỳ, chúng ta phải nhìn xuống một tầng sâu hơn kinh tế, quân sự hay khoa học kỹ thuật. Đó là cách một xã hội quan niệm về con người và cách nó tổ chức quyền lực để con người có thể phát huy khả năng của mình.

Và chính tại điểm này, lịch sử Hoa Kỳ đặc biệt đáng để người Việt Nam suy nghĩ.

 

1. Khởi đầu của nước Mỹ là một quan niệm về con người

Điều rất đặc biệt là văn kiện khai sinh Hoa Kỳ, bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776, không bắt đầu bằng kế hoạch phát triển kinh tế hay tham vọng trở thành cường quốc. Nó bắt đầu bằng một xác tín về con người: Mọi người sinh ra bình đẳng, được Đấng Tạo Hóa ban cho những quyền không thể bị tước đoạt, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Tư tưởng ấy mang dấu ấn của truyền thống luật tự nhiên mà Kitô giáo và triết học phương Tây đã phát triển qua nhiều thế kỷ, đồng thời chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư tưởng John Locke. Ý nghĩa cách mạng của nó nằm ở chỗ này: con người không tồn tại để phục vụ nhà nước, mà nhà nước tồn tại để bảo vệ con người.

Nếu chấp nhận nguyên tắc đó, quyền lực chính trị không còn là một thứ quyền tuyệt đối từ trên ban xuống. Chính quyền chỉ chính đáng khi nó phục vụ những con người vốn đã có những quyền căn bản trước khi chính quyền xuất hiện.

Đó là một cuộc đảo ngược tư duy vô cùng quan trọng. Và từ quan niệm ấy nảy sinh một câu hỏi khác: Nếu quyền lực do con người nắm giữ, mà con người vốn bất toàn, thì làm thế nào để quyền lực không biến thành công cụ đàn áp chính những người mà nó phải phục vụ?

 

2. Thiên tài của nước Mỹ không phải là tìm được người cai trị tốt, mà là tìm cách kiểm soát người cai trị

Những người xây dựng Hiến pháp Hoa Kỳ không ngây thơ tin rằng chỉ cần chọn những người đạo đức lên cầm quyền là đất nước sẽ tốt đẹp. Họ hiểu một sự thật rất cổ xưa: con người có khả năng làm điều thiện, nhưng cũng có khả năng lạm dụng quyền lực. Vì thế, thay vì chỉ đặt hy vọng vào đạo đức của người lãnh đạo, họ tìm cách xây dựng một hệ thống mà trong đó quyền lực kiểm soát quyền lực.

Hiến pháp Hoa Kỳ thiết lập ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, với các cơ chế kiểm soát và đối trọng nhằm ngăn một nhánh quyền lực trở thành tuyệt đối. Đây có lẽ là một trong những bài học quan trọng nhất mà Việt Nam cần suy nghĩ.

Chúng ta thường đặt hy vọng vào một vị lãnh đạo tốt, một ông vua minh quân, một tổng bí thư thanh liêm hay một chiến dịch chống tham nhũng mạnh mẽ. Nhưng một dân tộc không thể đặt tương lai của mình vào vận may rằng đời nào cũng xuất hiện minh quân. Người tốt rất cần. Nhưng thể chế tốt còn cần hơn. Bởi người tốt rồi cũng qua đi, trong khi thể chế có thể tồn tại qua nhiều thế hệ.

Vấn đề căn bản vì thế không phải là: Ai sẽ cầm quyền? mà phải là: Người cầm quyền bị giới hạn bởi cái gì? Ai kiểm soát họ? Và người dân có thể làm gì một cách hợp pháp khi người cầm quyền sai?

 

3. Tự do đã giải phóng một năng lượng khổng lồ của xã hội

Từ cơ cấu ấy dần hình thành một xã hội trong đó người dân được dành một không gian tương đối rộng để tự mình hành động. Họ có thể kinh doanh. Họ có thể lập hội. Họ có thể sáng chế. Họ có thể tranh luận. Họ có thể chỉ trích chính quyền. Họ có thể thành lập doanh nghiệp mà không cần phải trở thành quan chức. Và quan trọng hơn nữa, họ có quyền thất bại rồi làm lại.

Chính không gian tự do ấy giải phóng một nguồn năng lượng mà một bộ máy nhà nước, dù thông minh đến đâu, cũng không thể tự mình sản sinh ra được: sáng kiến của hàng triệu con người.

Một chính quyền có thể xây một nhà máy. Nhưng chính quyền không thể ra lệnh cho một Thomas Edison phải phát minh. Không thể ra nghị quyết để xuất hiện một Steve Jobs. Không thể hoạch định một chương trình năm năm rồi yêu cầu trong năm thứ ba phải xuất hiện những ý tưởng làm thay đổi thế giới. Sáng tạo vốn không vận hành như thế.

Muốn có sáng tạo, phải tạo ra môi trường trong đó con người được phép nghĩ khác, thử nghiệm, tranh luận, thất bại và bắt đầu lại. Đó chính là chỗ tự do chính trị và tự do kinh tế gặp nhau.

 

4. Nước Mỹ không chỉ khai thác tài nguyên thiên nhiên, mà khai thác một tài nguyên lớn hơn: con người

Hoa Kỳ có một khả năng đặc biệt mà ít đế quốc trước đó từng có ở cùng quy mô: biến những người từ khắp thế giới thành người Mỹ. Hàng triệu người đã bỏ quê hương để đến Mỹ không chỉ vì nơi này giàu có. Nhiều người đến khi nước Mỹ chưa giàu. Họ đến vì một lời hứa: Nếu anh có khả năng và chịu khó, anh có cơ hội xây dựng một cuộc đời tốt hơn. Và cùng với những người nhập cư ấy là kiến thức, nghị lực, văn hóa, tài năng và tinh thần phiêu lưu của vô số dân tộc.

Những nghiên cứu của U.S. Census Bureau cho thấy người nhập cư đóng vai trò nổi bật trong tinh thần doanh nghiệp Hoa Kỳ; các doanh nghiệp do người nhập cư sở hữu còn thể hiện mức độ đổi mới mạnh trên nhiều chỉ số. Như thế, nước Mỹ đã phát hiện ra một thứ tài nguyên quý hơn dầu mỏ, than đá hay vàng: Đó là tài năng của con người.

Điều ấy đặt ra một câu hỏi rất nhức nhối cho Việt Nam: Tại sao biết bao người Việt Nam tài giỏi sau khi du học lại muốn ở lại Mỹ, Canada, Úc, Nhật hay châu Âu? Vì thế, thay vì chỉ than phiền về hiện tượng «chảy máu chất xám», tại sao chúng ta không hỏi: Điều gì khiến chất xám muốn chảy đi?

Một quốc gia thật sự hùng mạnh không phải là quốc gia phải tìm cách giữ chân công dân của mình. Đó phải là quốc gia khiến người tài ở nơi khác cũng muốn tìm đến.

 

5. Sức mạnh Mỹ còn đến từ khoa học và đại học

Hoa Kỳ đã xây dựng được một hệ sinh thái rất đặc biệt giữa: đại học – khoa học – nhà nước – doanh nghiệp – thị trường vốn.

Chính phủ Hoa Kỳ đã đầu tư lâu dài cho nghiên cứu và phát triển. Dữ liệu của National Center for Science and Engineering Statistics cho thấy năm 2022 chính phủ liên bang tài trợ 159,8 tỷ USD cho R&D, tương đương khoảng 18% tổng chi tiêu R&D của Hoa Kỳ; đặc biệt, nguồn liên bang tài trợ 52% hoạt động R&D tại khu vực đại học.

Nhưng tiền chưa phải là tất cả. Một đại học không thể trở thành đại học lớn nếu giáo sư chỉ được phép chứng minh điều mà nhà cầm quyền đã xác định trước là chân lý. Khoa học bắt đầu từ câu hỏi. Mà câu hỏi nguy hiểm nhất thường là: «Có thật như vậy không?»

Một xã hội không quen nghe câu hỏi ấy trong chính trị sớm muộn cũng gặp khó khăn khi muốn nghe nó trong khoa học. Bởi tư duy phản biện không có hai bộ não riêng biệt: một bộ não tự do trong phòng thí nghiệm và một bộ não phục tùng ngoài xã hội. Đó là điều Việt Nam cần đặc biệt suy nghĩ nếu muốn chuyển từ nền kinh tế gia công sang nền kinh tế tri thức.

 

6. Nhưng chúng ta cũng không nên thần thoại hóa nước Mỹ

 Nói như thế hoàn toàn không có nghĩa nước Mỹ là một xã hội hoàn hảo. Trái lại. Một quốc gia tuyên bố «mọi người sinh ra bình đẳng» lại từng chấp nhận chế độ nô lệ. Một đất nước đề cao nhân quyền đã từng có những giai đoạn kỳ thị chủng tộc hết sức nghiêm trọng. Cuộc Nội chiến đã làm nước Mỹ trả giá bằng máu cho mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tế của mình. Cho đến ngày nay, xã hội Mỹ vẫn còn những bất công, chia rẽ chính trị, bất bình đẳng và rất nhiều vấn đề chưa giải quyết được.

Do đó, điều đáng học nhất ở Hoa Kỳ có lẽ không phải là nước Mỹ ít phạm sai lầm hơn các dân tộc khác. Điều đáng học là họ đã xây dựng được những cơ chế để sai lầm có thể bị phát hiện, công khai tranh luận và cuối cùng được sửa chữa mà không nhất thiết phải phá bỏ toàn bộ quốc gia.

Một tờ báo có thể phanh phui sai phạm của chính quyền. Một công dân có thể kiện nhà nước. Một tòa án có thể tuyên cáo một hành vi nào đó của chính quyền là trái Hiến pháp. Tư pháp Hoa Kỳ đã củng cố vai trò này qua lịch sử phát triển của judicial review (xem xét lại tính pháp lý). Một đảng chính trị có thể mất quyền lực mà những người lãnh đạođảng ấy không nhất thiết vì thế mà phải vào tù. Chính khả năng tự sửa sai ấy là một thứ sức mạnh rất lớn của một quốc gia.

 

7. Và đây là vấn đề Việt Nam phải đối diện

Việt Nam trong mấy thập niên qua đã đạt được một thành tựu không thể phủ nhận: Chính sách Đổi Mới đã giải phóng một phần rất lớn năng lực kinh tế của người dân. Nhưng chính thành công ấy đặt ra một câu hỏi mới: Nếu việc giải phóng sức dân trong kinh tế đã tạo nên những thay đổi lớn lao như vậy, thì điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta giải phóng thêm sức dân trong tư tưởng, khoa học, giáo dục, báo chí và xã hội dân sự?

Hiện nay, các tổ chức theo dõi quốc tế vẫn đánh giá Việt Nam là một nhà nước một đảng với những hạn chế đáng kể về quyền chính trị, tự do biểu đạt và xã hội dân sự. Freedom House chấm điểm Việt Nam về quyền tự do chỉ được 20/100 và xếp loại «Not Free» trong báo cáo năm 2026; Human Rights Watch cũng ghi nhận những hạn chế nghiêm trọng về tự do biểu đạt, lập hội, hội họp và tôn giáo.

Người ta có thể đồng ý hay tranh luận với những đánh giá ấy. Nhưng có một câu hỏi khó tránh: Một quốc gia có thể tiến đến trình độ sáng tạo hàng đầu thế giới trong khi vẫn giới hạn nghiêm ngặt khả năng suy nghĩ, phản biện và tổ chức độc lập của chính người dân mình hay không?

 

8. Cái bẫy nguy hiểm của thành công

Theo tôi, đây chính là vấn đề Việt Nam đang phải đối diện. Một cơ chế có thể rất thành công trong việc đưa một quốc gia từ nghèo lên trung bình, nhưng chưa chắc có khả năng đưa quốc gia ấy từ trung bình lên hàng tiên tiến.

Ở giai đoạn đầu, người ta có thể phát triển nhờ: vốn ngoại quốc, lao động giá rẻ, đất đai, xuất khẩu, gia công và nhập khẩu công nghệ. Đó là những lý do khiến Việt Nam phát triển được trong những thập niên qua. Nhưng đến một giai đoạn nào đó, những động cơ ấy sẽ yếu dần.

Muốn tiến lên nữa, đất nước phải tự mình tạo ra: tri thức, công nghệ, doanh nghiệp mới, phát minh và những ý tưởng mà thế giới chưa có. Và đến đây, vấn đề không còn chỉ là vốn. Nó trở thành vấn đề con người.

Người ta có thể mua một máy móc hiện đại. Nhưng không thể nhập khẩu óc sáng tạo cho cả một dân tộc.

 

9. Vì thế nhân quyền không chỉ là vấn đề đạo đức

Đây là điểm tôi cho là hết sức quan trọng. Người ta thường tranh luận về nhân quyền như thể đó chỉ là một vấn đề đạo đức: Phương Tây đòi hỏi nhân quyền, còn chính quyền các nước đang phát triển đòi hỏi ổn định để phát triển kinh tế.

Nhưng cách đặt vấn đề ấy có thể đã sai ngay từ đầu. Bởi một số quyền tự do căn bản, chính là cơ sở hạ tầng vô hình của một nền kinh tế tri thức. Tự do tư tưởng giúp khoa học tiến bộ. Tự do ngôn luận giúp những thông tin mà chính quyền không muốn nghe vẫn có con đường đi lên. Báo chí độc lập giúp phát hiện sai trái và tham nhũng. Tư pháp độc lập làm người dân và doanh nghiệp tin rằng hợp đồng và quyền sở hữu của họ được bảo vệ. Xã hội dân sự góp phần phát hiện những vấn đề mà bộ máy hành chính không thể nhìn thấy.

Như vậy, giữa nhân quyền, pháp quyền và phát triển có thể không phải là quan hệ đối nghịch. Ngược lại, càng tiến vào nền kinh tế tri thức, chúng càng có khả năng bổ túc cho nhau.

 

10. Việt Nam không cần trở thành nước Mỹ

Dĩ nhiên, Việt Nam không thể và cũng không nên sao chép nguyên xi mô hình Hoa Kỳ. Chúng ta có lịch sử khác. Văn hóa khác. Địa chính trị khác. Truyền thống xã hội khác. Nhưng kinh nghiệm của một dân tộc khác vẫn có thể giúp chúng ta nhận ra những nguyên lý phổ quát.

Theo tôi, có ít nhất sáu bài học đáng suy nghĩ:

● Thứ nhất, không chỉ chọn người tốt, mà phải xây dựng thể chế khiến người xấu cũng khó làm điều xấu.

● Thứ hai, muốn chống tham nhũng lâu dài phải kiểm soát quyền lực, chứ không thể chỉ dựa vào những chiến dịch chống tham nhũng.

● Thứ ba, muốn có một nền kinh tế sáng tạo phải bảo vệ tự do tư tưởng và phản biện.

● Thứ tư, muốn thu hút nhân tài phải tạo ra một xã hội trong đó tài năng được trọng dụng mà không đòi hỏi sự phục tùng về tư tưởng.

● Thứ năm, muốn có đại học đẳng cấp thế giới phải có tự do học thuật tương xứng với nó.

● Và sau cùng, muốn đất nước ổn định lâu dài thì nền ổn định ấy phải ngày càng dựa trên lòng tin và tính chính đáng của thể chế, chứ không chỉ trên khả năng kiểm soát xã hội.

 

11. Quốc gia hùng mạnh là quốc gia nào?

Cuối cùng, có lẽ chúng ta phải trở lại câu hỏi căn bản nhất: Thế nào là một quốc gia hùng mạnh? Có phải một nước có GDP rất lớn thì đương nhiên hùng mạnh? Có phải có quân đội hùng hậu là hùng mạnh? Có phải xây thật nhiều cao ốc, đường cao tốc, phi trường và những thành phố hiện đại là đã trở thành cường quốc?

Tất cả những thứ ấy đều cần. Nhưng vẫn chưa đủ. Bởi đằng sau mọi nhà máy là con người. Đằng sau mọi phát minh là con người. Đằng sau mọi doanh nghiệp là con người. Đằng sau mọi nền văn minh cũng vẫn là con người.

Do đó, sức mạnh sâu xa nhất của một quốc gia cuối cùng chính là phẩm chất và năng lực của những con người sống trong quốc gia ấy.

Nếu nhà nước xem người dân chủ yếu là đối tượng phải quản lý, nó chỉ sử dụng được một phần rất nhỏ tiềm năng của họ. Nhưng nếu nhà nước xem mỗi người dân là một chủ thể có phẩm giá, có quyền tự do, có trách nhiệm và có khả năng sáng tạo, thì hàng chục triệu bộ óc có thể trở thành hàng chục triệu nguồn phát sinh sáng kiến.

Có lẽ đây chính là bài học lớn nhất mà Việt Nam có thể rút ra từ lịch sử Hoa Kỳ.

Không phải: Làm thế nào để Việt Nam trở thành nước Mỹ? Mà là: Làm thế nào để Việt Nam tạo ra một thể chế trong đó hơn một trăm triệu người Việt Nam có thể phát huy đến mức cao nhất khả năng, sáng kiến và trách nhiệm của mình?

Nếu tìm được câu trả lời cho câu hỏi ấy, Việt Nam có lẽ chẳng cần phải mơ trở thành một «con rồng châu Á». Sự hùng mạnh sẽ đến như một hệ quả. Bởi xét cho cùng, một quốc gia không trở nên hùng mạnh chỉ vì chính quyền của nó mạnh. Một quốc gia trở nên hùng mạnh khi con người của nó được mạnh lên.

Nguyễn Chính Kết