Saturday, January 17, 2026

An ninh quốc gia của Trump

 

 AN NINH QUỐC GIA CỦA TRUMP

    Mới đây, TT Trump đã công bố một tài liệu có tên là National Security Strategy, hay Sách Lược An Ninh Quốc Gia, Mỹ viết tắt là tài liệu NSS. Đây là một tài liệu cực quan trọng mà ta cần phải biết và hiểu rõ trước khi có nhận định chung về TT Trump, bất kể tung hô hay chống báng.

    Dĩ nhiên là phe cấp tiến, đặc biệt là trong giới truyền thông loa phường cũng như trong giới trí thức khoa bảng có máu kỵ Trump, ngồi nghiên cứu đủ chuyện trong phòng lạnh, đã mạnh tiếng công kích chính sách bảo vệ an ninh quốc gia của TT Trump, như đã công kích tất cả những việc gì Trump đã làm hay không làm, đã nói hay không nói. Bất cứ chuyện gì liên quan đến Trump cũng đáng bị sỉ vả, đó là nguyên lý chung của phe cấp tiến.

    Bài này sẽ xem lại vấn đề một cách bình tĩnh và sòng phẳng hơn.

TÓM LƯỢC

    Sách lược an ninh quốc gia (ANQG) của TT Trump phải được coi như một 'cách mạng' trong chính sách quốc phòng và đối ngoại của Mỹ, khi nó hầu như đi ngược lại tất cả các chính sách của các vị TT tiền nhiệm từ sau Thế Chiến II tới nay, bất kể TT của CH hay DC.

    Phe cấp tiến cho rằng đây là một tuyên cáo ý thức hệ -ideology statement- hơn là một sách lược bảo vệ Mỹ. Mà nếu đó là một sách lược bảo vệ Mỹ thì chính sách này thật sự đã đặt nước Mỹ trong thế nguy kịch, bị đe dọa lớn hơn nhiều, khi Mỹ mất hết đồng minh cố hữu mà lại tạo thêm không biết bao nhiêu kẻ thù mới.


SÁCH LƯỢC MỚI CỦA TRUMP

    Chúng ta thật ra không có nhu cầu đi vào chi tiết của một sách lược có thể nói bao gồm gần như tất cả mọi khía cạnh của mọi chính sách của TT Trump. Chỉ cần ghi nhận một vài điểm chính, cùng với một vài hậu quả cụ thể, cũng như công kích lớn.

a) Triết lý nền tảng

    Trên căn bản, sách lược ANQG mới của TT Trump đặt nền tảng gần như trọn vẹn trên mục tiêu ông Trump đã hô hoán tới khan tiếng, là America First. Từ căn bản đó, ông Trump đã đưa ra những thay đổi khổng lồ trong chính sách đối ngoại, với kẻ thù cũng như với những xứ gọi là đồng minh, với hậu quả trực tiếp lên sách lược tổng quát ANQG.

b) Những định nghĩa mới về bạn và thù

    Nói trắng ra, qua tài liệu mới này, điểm quan trọng nhất đáng để ý là TT Trump đã định nghĩa lại thế nào là đồng minh, là kẻ thù. Ai bạn, ai thù? Cái nhìn -hay định nghĩa- của TT Trump khác hẳn cái nhìn của gần hết các vị TT tiền nhiệm từ sau thế chiến tới nay, nhất là từ Bush Con tới Obama tới Biden.

    Không ai không biết chính sách đối ngoại của Mỹ, nền tảng của sách lược ANQG từ sau thế chiến tới thời Biden, kể cả trong nhiệm kỳ đầu của TT Trump, vẫn đặt nền tảng trên con đẻ của chiến tranh lạnh, là liên minh với các quốc gia Tây Âu và các quốc gia theo chủ nghĩa tư bản chống lại khối được coi như kẻ thù chung là khối cộng sản, bây giờ đã đổi áo thành xã nghĩa, như tắc kè đổi màu da cho thích hợp hơn với môi trường hiện hữu sau khi CS đã bị vứt vào thùng rác lịch sử. 

    Nền tảng 'chống cộng' này bị lung lay tận gốc rễ khi bức màn sắt cộng sản rơi rụng như sung vào những năm 1989-1990. Kẻ thù chung cộng sản 'biến mất' nhưng tình đồng minh Mỹ-Tây Âu vẫn còn, tuy chẳng ai hiểu đồng minh trong chuyện gì, để làm gì.

    Cho tới ngày khủng khiếp 9-11 khi al Qaeda đánh Mỹ. Bất thình lình, khối đồng minh tìm ra được một kẻ thù mới để coi như biện minh cho tình đồng minh được tái sinh: kẻ thù chung mới xuất hiện chính là các nhóm khủng bố Hồi giáo quá khích. Khi Mỹ ra tay đánh Afghanistan và nhóm nắm quyền tại đó, Taliban, thì cả khối đồng minh, kể cả rất nhiều đồng minh mới ngoài Tây Âu, đã chung lưng sát cánh với Mỹ.

    Hơn hai chục năm sau, mối đe dọa của khủng bố Hồi giáo quá khích phai nhạt đi trên khắp thế giới qua những càn quét thật hữu hiệu của Mỹ và các đồng minh cũ và mới.

    Chất keo gắn bó tình 'đồng minh' có vẻ loãng đi nhiều khi lý do tồn tại khó biện minh hơn vì mất 'kẻ thù chung'. Cộng sản đã tiêu tùng trong khi khủng bố Hồi giáo quá khích cũng hết còn là đe dọa lớn. Trong khi thiên hạ lại thấy một đại cường kinh tế mới nổi, là Trung Cộng. Sức mạnh kinh tế của TC lớn như thổi, đưa đến tình trạng bối rối chung: phải đối phó như thế nào, chặn chống TC hay trái lại, muốn có quan hệ tốt với mấy Chú Ba?

    Quan trọng hơn xa, làn ranh ý thức hệ giữa khối tư bản và khối cộng sản của thời chiến tranh lạnh ngày càng phai nhạt khi ta thấy các chính sách của Mỹ, đặc biệt là bắt đầu từ thời Obama, có vẻ 'tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc' về phía tả, trong khi khối cựu Liên Xô và đặc biệt là con rồng Tầu cộng ngày càng bò về phía tư sản mại bản.

        Bức tranh đồng minh/kẻ thù qua ý thức hệ hiển nhiên bị xáo trộn, trở nên rối mù. Chẳng ai còn biết chắc ai bạn ai thù nữa. Trong khi thế giới đang tự lột xác, chao đảo tìm hướng đi mới, thì xẩy ra hiện tượng... Trump!

    Nhiều người, nhất là các chuyên gia tự phong, đã ngỡ ngàng, ngạc nhiên khi thấy Trump đắc cử tổng thống quá dễ dàng năm 2016, đánh xập một thành đồng chính trị có vẻ thật vững chắc là bà Hillary. Nhưng nghĩ cho cùng, Trump thành công không phải là một bất ngờ hẳn. Dân Mỹ, rối trí trước những thay đổi khổng lồ của chính trường thế giới, đã chọn một giải pháp tất nhiên: đó là chọn một cái gì vững chắc, không rung rinh chao đảo, mà họ biết được, hiểu được, và tin tưởng được. Một người nói một thứ ngôn ngữ mà họ hiểu được, không màu mè, chải chuốt, 'nghe dzậy mà hổng phải dzậy' như một chính trị gia bình thường, dẻo lưỡi kiểu Obama hay Clinton. 

    Trong tư cách một người KHÔNG phải là chính trị gia chuyên nghiệp, Trump cố tình không nhìn vào lịch sử chính trị thế giới, bất cần biết nguy cơ cộng sản vì cộng sản đã tiêu tùng rồi, khinh thường nguy cơ khủng bố Hồi giáo bị coi như dẹp yên rồi, ngoại trừ một vài tên khùng điên lẻ tẻ, mà chỉ nhìn thấy một nước Mỹ ngày càng sa sút, ngày càng bị thế giới khai thác, lợi dụng trong khi cả thế giới lại khinh thường Mỹ một cách công khai, không ngại chửi Mỹ là ngu, hay nhẹ hơn, ngây thơ. Dân cả thế giới luôn luôn tay chìa ra nhận tiền Mỹ trong khi miệng chửi Mỹ ngu, nhất là dân Âu Châu.

    Trump cũng thấy rõ là những đồng minh cố hữu, đặt biệt là Tây Âu và cả hai anh láng giềng Canada và Mexico, đóng tuồng là đồng minh, trong khi cố khai thác, vắt sữa con bò Mỹ tới chết.

    Để rồi Trump nói huỵch tẹt ra, đó không phải là đồng minh, hết chuyện. 

    Đó là cách định nghĩa mới của TT Trump về 'đồng minh'. Còn về kẻ thù thì sao? 

   Với Trump, những kẻ thù của Mỹ là những xứ muốn gây hại trực tiếp cho Mỹ, như Iran, Venezuela,... Những kẻ thù 'cố hữu', cổ điển không còn nữa. TT Trump ra trước Liên Hiệp Quốc công khai lên án chủ nghĩa và chế độ cộng sản, nhưng đó là cái hại chung cho cả nhân loại, riêng đối với Mỹ, Mỹ không bị cộng sản trực tiếp đe dọa. Nôm na ra, kẻ thù của Mỹ là những xứ trực tiếp muốn gây hại Mỹ, hay muốn khai thác Mỹ vì quyền lợi của họ, chứ không còn là những chủ nghĩa trừu tượng như cộng sản và Hồi giáo quá khích là loại lắt nhắt mà Trump rất coi thường, tự cho có thể dẹp yên dễ dàng. Kẻ thù lớn và nguy hại hơn nhiều là... Tầu cộng.

c) Kẻ thù mới: Trung Cộng

    Khi TT Trump ngay trong nhiệm kỳ đầu, bổ nhiệm giáo sư Peter Navarro làm Đại Diện Thương Mại, ông đã công khai tuyên chiến với Trung Cộng.

    Trump nhìn TC như một kẻ thù ngay trong hiện tại, đang gặm nhấm cả thế giới qua chính sách mậu dịch tung hàng rẻ vào thế giới nghèo, và qua viện trợ kinh tế của TC. Chuyện này chính là chủ đề của tuyệt tác của GS Navarro 'Death By China'. 

    Cái nguy cơ khổng lồ mà Trump nhìn thấy rõ trước mắt hiển nhiên không còn là chủ thuyết cộng sản hay mấy tên Hồi giáo cực đoan, mà chính là việc đại cường Mỹ mất thế đại cường để rồi thế giới sẽ bị thống trị bởi một đế chế mới cực nguy hại là... Tầu cộng. Về lâu về dài, nếu không sửa đổi, 'đế chế' Mỹ sẽ suy thoái như các đế chế Anh, La Mã,... trước đây. 

    Chính sách chặn TC của TT Trump, ngay từ nhiệm kỳ đầu, ai cũng thấy, đó là tìm cách cô lập TC về kinh tế cũng như chính trị, bằng cách bao vây TC bằng các 'đồng minh' mới của Mỹ, từ Nga qua Ấn Độ, Úc, các xứ Đông Nam Á trong đó có cả VN, rồi qua Đài Loan, Nhật, Nam Hàn, và nếu có thể, cả Bắc Hàn luôn. Chính sách bao vây cô lập TC giải thích việc Trump có vẻ nhẹ tay với CSVN, vì muốn kéo VN vào thành một mắt xích bao vây TC.

    Hiểu cho rõ: Trump đánh bắt Maduro không phải vì ma túy, cũng chẳng phải vì dầu hỏa Venezuela, mà chính vì nguy cơ Trung Cộng đang chui vào sân sau của Mỹ. Ngay cả những việc Trump làm liên quan tới Panama và Greenland, cũng là những biện pháp cản Tầu cộng, không hơn không kém.

    Nhiều chuyên gia bàn về chủ thuyết Monroe -bảo vệ vùng Tây Bán Cầu Mỹ Châu-, nhưng việc chống TC đi xa hơn thuyết Monroe, vì nhắm chặn bành trướng của TC trên khắp thế giới.

d) Những đe dọa an ninh mới khác

    Những kẻ thù 'cổ điển' là những ngoại thù, muốn đánh Mỹ từ ngoài bằng võ lực, là những thứ Trump rất tự tin, coi như có cách đối phó hữu hiệu. Kẻ thù mới và nguy hiểm mà Trump nhìn thấy rất rõ, đó là:

  1. những kẻ thù từ trong nước là đám di dân lậu gây hại vô bờ cho an ninh trật tự công cộng trong xứ và cho kinh tế Mỹ: tốn ngân sách cho y tế, giáo dục, an ninh, chiếm việc làm của dân Mỹ, phá vỡ những giá trị văn hoá truyền thống Mỹ;
  2. thế giới mạo danh là đồng minh, là bạn, đã, đang và vẫn muốn tận tình vắt sữa con bò Mỹ vì quyền lợi của họ.
  3. Trung Cộng trở thành đại thù lớn nhất và nguy hiểm nhất của Mỹ.
    Đó chính là tâm điểm của sách lược ANQG mới của TT Trump.

e) Thế giới mới trong mắt của Trump

    Nói chung, TT Trump nhìn thế giới như cái gì lưỡng cực, với một bên là Mỹ và một bên là cả thế giới còn lại, chẳng ai là bạn vĩnh viễn mà cũng chẳng ai là thù vĩnh viễn, mà chỉ có quyền lợi của mỗi bên, mỗi xứ, đặc biệt là quyền lợi kinh tế dựa trên bình đẳng và công bằng, không lợi dụng nhau, tùy theo thời điểm lịch sử.

    Âu Châu mất hẳn tư thế 'đồng minh' được biệt đãi.

    Liên Hiệp Quốc không được nhắc tới một lần trong tài liệu NSS. Vì LHQ là một tổ chức lỗi thời, không còn tiếng cũng chẳng bao giờ có miếng. Quanh năm ngày tháng chỉ lo tổ chức hội nghị linh tinh, giúp đám quan chức du lịch khắp thế giới, khách sạn 5 sao, máy bay hạng nhất, cao lương mỹ vị vô song,... Hoàn toàn tốn tiền mà vô tích sự. Với những con vẹt vẫn còn ca bài Diễm Xưa, tung hô LHQ, xin hỏi chứ khi CSBV tung quân chiếm VNCH, LHQ đã làm gì? Chủ tịch Hội Đồng Bảo An LHQ bây giờ là một anh... Somalia!!! CSVN và Trung Cộng cũng đã từng là thành viên của HĐBA này. Với những tay thảo khấu này nắm quyền, LHQ còn nghĩa lý gì? Nếu kẻ này là Trump, sẽ yêu cầu LHQ chuyển trụ sở ra khỏi New York, khỏi nước Mỹ luôn. Qua Pháp, qua Na Uy,... Xem nước nào dám nhận? Đi xa hơn, Mỹ rút ra khỏi LHQ thì LHQ sẽ... mồ yên mả đẹp luôn.

    Trong NSS, chuyện của Mỹ, chính người Mỹ sẽ phải lo, quyền lợi của Mỹ, chính người Mỹ phải tỉnh ngủ, bảo vệ cho kỹ, không thể trông chờ bất cứ vào ai khác, vào bất cứ đồng minh nào, vì thực tế, chẳng có ai là đồng minh hết. Trước khi lo cho thế giới, người Mỹ phải lo cho chính nước mình trước, quyền lợi của mình trước. Đó chính là nền tảng của sách lược America First, không hơn không kém. 

    Và đó cũng là thực tế của chính trường thế giới. Vì trong thực tế lịch sử thế giới, chưa có tổng thống, vua, hay thủ tướng nào lại có chính sách phục vụ nước ngoài trước khi phục vụ xứ mình. Tất cả đều 'làm' mà không dám nói, trong khi Trump làm và nói huỵch tẹt ra luôn.

    Cái nhìn này giải thích việc TT Trump xét lại thuế quan vào Mỹ của hàng nhập từ cả thế giới, không chừa một xứ nào, đồng minh cố hữu cũng như kẻ thù cũ mới. Cũng giải thích thuế quan đã trở thành một thứ vũ khí chiến lược ANQG mà nhiều người tố cáo là... 'chống' cả thế giới.


CHỈ TRÍCH CỦA ĐỐI LẬP

    Đảng DC nói riêng và phe cấp tiến nói chung, luôn cả các 'đồng minh' cố hữu trong truyền thông loa phường dĩ nhiên đã nhất loạt chống mạnh, tố cáo sách lược mới đủ tội, nghiêm trọng nhất là:

1- Mỹ từ bỏ vai trò lãnh đạo thế giới

    Theo kẻ này, làm con bò để cả thế giới đè xuống vắt sữa tới chết khô, không phải là 'lãnh đạo thế giới'. Thực tế mà nói, Mỹ đã 'lãnh đạo thế giới' về chuyện gì? Ngoài việc luôn luôn phải chi tiền nhiều nhất trong tất cả mọi việc 'làm chung' với thế giới, từ Liên Hiệp Quốc, NATO, Tổ Chức Y Tế Quốc Tế WHO, Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới WTO, Tổ Chức Bảo Vệ Văn Hóa Thế Giới UNESCO, Thỏa Thuận Paris Về Khí Hậu,... Nếu quan niệm 'lãnh đạo thế giới' nghĩa là phải từ bi hỷ xả, đi vay mượn tới ngập đầu để có tiền bố thí hay cõng cả thế giới, thì xin lỗi, kẻ này không chia sẻ quan niệm đó chút nào.

2- Mang ý thức hệ quốc gia -nationalism- vào an ninh quốc gia

    Sách lược an ninh quốc gia mới của Trump có vẻ ích kỷ, lo cho Mỹ, mang nặng tính 'quốc gia' hay 'chủ nghĩa dân tộc' -nationalism-, mà bất cần ngó tới quyền lợi và an ninh chung. 

    Trên căn bản, quốc gia lúc nào cũng là nền tảng của sách lược ANQG, có gì sai? Về chuyện an ninh chung, thế giới của thế kỷ 21 đã lột xác, những khối liên minh trên thế giới của gần một thế kỷ trước, hết hợp thời thế từ quá lâu rồi.

3- Mỹ 'đánh nhau' với cả thế giới

    Đây ám chỉ chính sách thuế quan mới, áp đặt thuế quan trên tất cả các quốc gia có trao đổi mậu dịch với Mỹ. Khi Mỹ muốn quân bình hóa cán cân mậu dịch với cả thế giới, khi Mỹ tăng thuế quan lên hàng nhập của tất cả các nước, đó không phải là đánh nhau với cả thế giới, mà chặn bớt việc cả thế giới đang khai thác Mỹ, để bảo vệ kỹ hơn nước và dân Mỹ.

    Công kích Trump hiếu chiến, muốn đánh nhau với cả thế giới mang tính phe đảng lố bịch, không nhìn thấy cả thế giới đã và đang xúm vào vắt sữa, xẻ thịt con bò Mỹ.

4- Phản bội đồng minh Tây Âu

    Khi TT Trump kêu gọi Tây Âu, hay cụ thể hơn NATO, phải tự lo chuyện quốc phòng nhiều hơn, đó không phải là phản bội, mà là khuyến khích đồng minh trưởng thành hơn, có tinh thần trách nhiệm cao hơn với chính họ.

    Sách lược an ninh quốc gia của TT Trump mở ra một trang sử mới cho nước Mỹ. Chúng ta có thể có hai thái độ: tìm đọc để hiểu cho kỹ nguyên lý của các chính sách của TT Trump, hay nhắm mắt chửi tưới mà chẳng biết mình chửi cái gì.

Saturday, December 20, 2025

Luận về Nghệ Thuật Lãnh Đạo

Luận về Nghệ Thuật Lãnh Đạo

Trần Xuân Thời

Lãnh đạo đòi hỏi sự biến ứng, đa năng và đa hiệu, thích ứng với hoàn cảnh vô thường của cuộc sống.  Ví phỏng mọi người bình thường đều có tiềm năng lãnh đạo ngang nhau, nhưng nếu tiềm năng không được trao dồi và phát triển thì khó có thể trở thành người lãnh đạo. Những người có khả năng lãnh đạo thực sự là những người tạo dựng được hoàn cảnh và thời thế. Là những người tổ chức được đoàn thể, quy tụ được nhiều thành phần hưởng ứng chủ trương đường lối phục vụ nhân sinh và thực hiện được chương trình kế hoạch đã định.

Lãnh đạo khác với chỉ huy, mặc dù kinh nghiệm chỉ huy giúp ích rất nhiều cho vấn đề lãnh đạo. Các trưởng cơ quan hay đơn vị thường được gọi là chỉ huy trưởng, trưởng cơ sở… đảm nhiệm vai trò điều hành một đơn vị để phối trí và thực hiện một số công tác chuyên môn do luật định, nghĩa là những người chỉ huy phải chu toàn nhiệm vụ trong khuôn khổ quyền hạn và trách nhiệm đã được quy định…

Nhiều người lấy làm thắc mắc vì sao trong 50 năm tỵ nạn, một số người có chức cao quyền trọng trong xã hội Việt Nam Cộng Hòa, ít thấy xuất hiện để cứu dân độ thế. Lý do là trong các sinh hoạt quốc gia, các nhân viên phục vụ trong các ngành dân, quân, cán, chính, thường sống lâu ra lão làng, được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy nếu hội đủ một số tiêu chuẩn do quy lệ ấn định. Các cấp chỉ huy, trưởng cơ quan có nhiệm vụ và khả năng chuyên môn hạn chế tùy từng ngành riêng biệt. Trong kinh nghiệm chỉ huy đó, có người chỉ có khả năng sinh hoạt trong ngành chuyên môn của mình, có người có khả năng sinh hoạt trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Những người có khả năng sinh hoạt trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tự học hỏi và thăng tiến có triển vọng trở thành những người lãnh đạo. Lãnh đạo đòi hỏi sự biến ứng, đa năng và đa hiệu, thích ứng với hoàn cảnh vô thường của cuộc sống.  Người lãnh đạo khác với người thường là quyết định của họ sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành quyết định của người khác. Ý kiến của họ giúp được nhiều người khác thăng tiến sự hiểu biết. Thái độ xử thế của họ có thể tạo nên thái độ mẫu mực cho người khác noi theo.

Người lãnh đạo là người có “NHÂN”, Thể hiện qua tinh thần nhân ái, hợp tác với các cộng sự viên và người đồng hành để thực hiện lý tưởng.

Người lãnh đạo là người có “TRÍ” với sáng kiến, có đủ khả năng để quyết định những công tác hữu ích cho đoàn thể, cho cộng đồng, cho nhân quần xã hội.

Người lãnh đạo là người có “DŨNG” can đảm thực hiện sáng kiến hữu ích; không lùi bước trước gian nguy thử thách. Người lãnh đạo là người có khả năng chấp nhận rủi ro và nguy hiểm. Khi làm việc phải, có thể bị chống đối một cách phi lý. Người lãnh đạo phải biết quan sát và nhận xét, phân biệt phải trái để hành động. Người lãnh đạo phải biết tu thân và phục vụ công lý trong tinh thần cần, kiệm, liêm, chính.  “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Người lãnh đạo biết tiến, thối, chuẩn bị chu đáo, tạo hoàn cảnh và hành động thuận theo thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Người lãnh đạo là người có tinh thần trách nhiệm, can trường thực hiện sứ mệnh, không lùi bước trước thử thách, không làm điều trái với lương tâm. Người lãnh đạo là người bảo vệ sự chính đáng và chính danh trong hành động.

“Vì danh bất chính thì ngôn bất thuận và ngôn bất thuận thì sự chẳng thành.”

Người lãnh đạo thành thực với chính mình, biết bồi ưu và biết bổ khuyết; biết sống và hành động theo lý tưởng phục vụ nhân quần xã hội. Người lãnh đạo là người độ lượng, có lòng bác ái, từ bi, h xả nói lên lòng nhân đạo, tình yêu nhân hậu đối với nhân quần xã hội.

Đức Khổng Tử thường nói: “Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc. Vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ họa”. Làm điều lành thì Trời lấy phúc mà báo cho. Ngược lại, làm điều chẳng lành thì Trời lấy vạ mà báo cho. Nói khác đi “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”.

Do đó, người lãnh đạo tốt luôn luôn nghĩ đến điều thiện “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi.”  Một ngày mà không nghĩ đến điều thiện, thì mọi điều ác tự dấy lên. Những người có tiềm năng lãnh đạo, mà có lòng nhân thì tâm thường an lạc.”tâm sanh tướng”.  Nhờ sự bình an trong tâm hồn mà trí tuệ được sáng suốt, minh mẫn, có thể được thư thái, không lâm vaò trạng thái hỉ, nộ, ái, ố thất thường. Nhờ sự thư thái về thể xác, minh mẫn về tinh thần, “Hồn lành trong xác mạnh”.  Người lãnh đạo phát kiến được nhiều chương trình, kế hoạch hữu ích cho nhân quần xã hội, thoát hiểm cho cộng đồng, cho quốc gia dân tộc.

Những đức tính tự nhiên của người lãnh đạo có thể do bản chất “Thông minh vốn sẵn tính Trời”, hoặc do tự tô bồi bởi sự cố gắng học hỏi, tu luyện: “Văn ôn, võ luyện”. Thế thượng thường tình. Không có hoa hồng nào mà không có gai. Không có kết quả nào mà không do sự khổ công tu luyện.  Muốn trở thành một người lãnh đạo cần phải can đảm dám từ bỏ tự cao, tự đại, tự mãn, cần phải áp dụng đức bác ái, từ bi, h xả trong đời sống hàng ngày, để từ bỏ tính ích k cá nhân. Muốn được vậy, phải luôn luôn học hỏi qua kinh điển, sách vở, báo chí, dụ ngôn, để hiểu biết lẽ sống của con người, giá trị của cuộc đời rồi mới hiểu được chân, thiện, mỹ mà tự cải tiến tâm hồn.

Một yếu tố đáng lưu ý của những nhà lãnh đạo Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là những người đã từng đọc thật nhanh và đọc rất nhiều sách. Theo thống kê, có người đọc 700 chữ một phút và đọc ít nhất 30 cuốn sách một tháng.? Nếu thế thì chẳng bao lâu có thể thu tóm “Bốn bồ chữ của thiên hạ về một mối” Cao Bá Quát có sống lại cũng không địch nổi, dù ông có tự khoe trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ông và gia đình chiếm hết ba bồ, còn lại một bồ cho thiên hạ…!

Lý do rất dễ hiểu là kiến thức thu thập ở ghế nhà trường, các quân trường, các lớp huấn luyện có tính cách hạn hẹp và chuyên môn, vài năm sau sẽ bị lỗi thời (obsolete), nếu không được câp nhật hoá. Do đó, vấn đề tu nghiệp rất quan trọng trong mọi ngành sinh hoạt hiện nay tại Hoa Kỳ và các quốc gia tân tiến. Nếu không có tu nghiệp (continuing education) tức là không có tiến bộ, không thu nhận được kiến thức mới tức là thoái hoá…

Những người có thiện chí lãnh đạo cần phải trao đổi và cập nhật hoá kiến thức, hiểu biết rộng rãi về mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Không phải để trở thành chuyên viên, hiểu biết về một ngành sinh hoạt, mà phải có kiến thức tổng quát để quản trị, để vạch chính sách chung cho mọi ngành sinh hoạt. Câu nói: “Một ngày không đọc sách, soi gương tự thẹn, hai ngày không đọc sách, nói chuyện nhạt nhẽo khó nghe” thật là chí lý.

Ngoài những đức tính tự nhiên, người lãnh đạo là người có đời sống tinh thần phong phú. Người lãnh đạo là người sống với đức tin: Lòng tin chở được núi. Với đức tin mọi việc hữu ích sẽ được hoàn thành một cách thoải mái. Sống trong đức tin là sống trong sự cải hóa tâm hồn. Sống đức tin là sống theo gương đấng chí tôn mà mình tôn thờ. Đức tin hướng thiện hành vi của con người. Cố Tổng Thống Hoa Kỳ Calvin Coolidge (1923-1929) nhận xét “Người mà không có tín ngưỡng là người chưa trưởng thành- It is only when men begin to worship that they begin to grow”.

Người lãnh đạo sống với hy vọng:

Hy vọng giúp con người biến mộng thành thực. Hy vọng là nguyên động lực thúc đẩy con người làm việc, đánh tan được sự thất vọng rình rập cuộc sống. Hy vọng không phải là mơ mộng, mà là mãnh lực thúc đẩy con người thực hiện được điều mong ước, lý tưởng (ideal) của mình. Mặc dầu “Ở đời lắm nỗi không bằng mộng. Mộng lớn bao nhiêu khổ bấy nhiêu”. 

Người lãnh đạo sống với tình yêu nhân loại:

Tình yêu là hy sinh và phục vụ. Vì tình yêu mới có thể làm việc một cách vui vẻ, không bao giờ chán nản.  “Khi yêu tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, thập ngũ đèo cũng qua”. Yêu là hy sinh, quên mình để phục vụ cho người khác. Tình yêu sẽ mang lại sinh lực, nhuệ khí, tăng cường các đức tính tốt của con người, vì yêu là muốn đem lại sự tốt đẹp cho tha nhân.  Có những người bôn ba hải ngoại, chân chạy không bén đất, vì nhiệt tình phục vụ nhân quần xã hội. Bất cứ công việc gì thực hiện cho tha nhân mà không dựa trên tình yêu thì việc đó không có sự hữu ích và thiếu giá trị tinh thần. “Cách cho hơn của cho” là vậy! Vua Trần Nhân Tông thấy dân đói khổ đã nói với quần thần: “Trẩm thương dân như thương con trẩm” chứng tỏ lòng nhân của một vị anh quân. Nhiều nhà cách mạng đã hy sinh cho cuộc đời để phục vụ cho lý tưởng quốc gia dân tộc.

Người lãnh đạo là người biết khiêm nhường.

Khiêm nhường là biết mình, là nhân nhượng, không so sánh mình với kẻ khác để tự ti mặc cảm hay để tự cao, tự đại, tự mãn. Khiêm nhường là phục thiện, biết nghe điều phải, biết học điều hay, biết làm điều tốt. “Bất sỉ hạ vấn”-hỏi người dưới không lấy làm thẹn”. Khiêm nhường không có nghĩa tự xem mình thấp kém hơn kẻ khác, hay tự ti mặc cảm. Tự ti mặc cảm (inferiority complex) không phải là khiêm nhường mà là mất tự trọng, tự tín (loss of self-esteem). Khiêm nhường là đức tính phát xuất từ sự hiểu biết về sự hữu hạn của đời người, của trí tuệ, của khả năng cá nhân. Sự khiêm nhường phát xuất từ sự nhận định được rằng, tha nhân, dù xuất hiện như thế nào chăng nữa, vẫn là những cá nhân đặc thù, có những khuyết điểm nên tránh và những ưu điểm nên theo. Sự khiêm nhường sẽ cho ta thời gian và sự bình tỉnh để can đảm nhận được giá trị của người khác, mà những người tự cao, tự đại, tự mãn, kiêu căng, không đủ bình tĩnh và lý trí để ghi nhận ưu điểm của người khác để tự cải tiến bản thân mình. Khiêm nhường nuôi dưỡng các đức tính khác và mở đường cho con người tự thăng tiến và được tôn trọng.

Thế thì các đức tính của người lãnh đạo chung quy vẫn nằm trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.  

*Nhân: (kindness/benevolence) Người lãnh đạo là người có lòng nhân, nhận lãnh trách nhiệm để phục vụ nhân quần xã hội.

Lễ: (decorum/ proprieties) Người lãnh đạo biết kính trọng tha nhân, những người mà mình xem là đối tượng để phục vụ.” không sợ người khác không biết mình mà chỉ sợ mình không biết người khác để đối xử cho phải lễ”.

* Nghĩa: (righteousness) Người lãnh đạo là người có lý tưởng phục vụ cộng đồng, xã hội, quốc gia, việc phải dù nhỏ cũng phải làm và việc quấy dù có chết cũng không làm.”.

* Trí: (wisdom) Người lãnh đạo là người sáng suốt, khôn ngoan, nhờ kiến thức tổng quát rộng rãi do công lao cá nhân chịu khó học hỏi để có đủ khả năng quyết định sáng suốt. “Bất sỉ hạ vấn”, biết học hỏi người dưới quyền không lấy làm thẹn.

Tín: (faithfulness/ fidelity) Người lãnh đạo là người tạo được lòng tin của tha nhân bằng lời nói và hành động. “Nhân vô tín bất lập. Nghiệp vô tín bất hưng”. Người không có chữ tín, không thể đứng vững được. “Tín vi nhân chi bảo”, được sự tin tưởng là bảo vật của nhân thế. 

Người lãnh đạo là người “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”. Khổ trước cái khổ của thiên hạ và vui sau cái vui của mọi người. Người lãnh đạo thay vì thoái thác, trùm chăn, lẩn trốn thế nhân, thường xuất hiện như một tấm gương sáng, cải hóa thế nhân bằng một đời sống chí tình, chí nghĩa, “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cho cường bạo”.  Người lãnh đạo là người biết quên mình để phục vụ lẽ phải, mọi hành động đều hướng đến Chân, Thiện, Mỹ.  Người lãnh đạo là người nhập thế, biết sử dụng tài năng của mình để nhận lãnh trách nhiệm và để phục vụ tha nhân.

Luận đến đây, mỗi người chúng ta tự xét mình có phải là người lãnh đạo hay không? Tùy hoàn cảnh và phạm vi sinh hoạt, mỗi người có thể trở thành người lãnh đạo đoàn thể, cộng đồng, xã hội, quốc gia. Người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức của thế trần, trang bị cho mình tinh thần lương thiện, vương đạo và lý tưởng phục vụ tha nhân. Giữa vấn đề sinh hoạt đơn thương độc mã và sinh hoạt tập thể, thì sinh hoạt tập thể là một môi trường đào tạo các nhân vật lãnh đạo. Có sinh hoạt tập thể thì mới biết được ưu và khuyết điểm, mới có cơ hội trao đổi tư tưởng và tự học hỏi để tiến bộ. Nhưng cũng nên lưu ý là đoàn thể phải có khả năng sinh hoạt rộng rãi, phát triển hội viên và sinh hoạt cả nội bộ lẫn sinh hoạt ngoại vi, cộng đồng, xã hội mới có thể đem tinh thần phục vụ đến cho nhân thế. Một đoàn thể đóng kín là một đoàn thể chẳng bao lâu sẽ bị mai một và héo tàn “A group closed upon itself will soon wither and die” dù đoàn thể đó là ái hữu, xã hội, tôn giáo hay chính trị.

Người lãnh đạo không chỉ phát triển đoàn thể cho mình, hay đoàn thể nào có mình là đủ, mà phải tạo cơ hội cho người khác tham gia đoàn thể, để có cơ hội phát triển, đồng tiến xã hội. Người lãnh đạo là người có tinh thần thông hiệp phong phú, biết kỹ thuật kết hợp, đoàn kết để tạo thành sức mạnh nhằm xây dựng nhân quần xã hội ngày càng thêm tốt đẹp về tình cũng như về lý:

Tình:

Mục đích của đoàn thể nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của tha nhân theo hệ cấp nhu cầu (Abraham Maslow): 

(1) Nhu cầu căn bản sinh vật lý (physiological needs) như đói ăn, khát uống.

(2) Nhu cầu được sinh sống an toàn (security needs) không bị đe dọa bởi bất cứ nguyên nhân nào, sống an cư, lạc nghiệp, kỳ thị.

(3) Nhu cầu được sống hội nhập, (social needs) người là sinh vật xã hội, sống thành tập thể, hội nhóm, xã hội, tôn giáo, cộng đồng,

(4) Nhu cầu được tôn trọng (esteem needs); Không ai có thể yên thân khi bị người khác chê cười, xa lánh,

(5) Nhu cầu đạt được những điều mong ước (self-actualization needs), lý tưởng của mình,

:

(1)Nhu cầu sống thành tập thể, hội nhóm, dù đoàn thể được tổ chức có quy cũ theo luật lệ hiện hành (de jure) hay tổ chức theo kết ước, bất thành văn (de facto) cũng phải theo những ý niệm căn bản của nhân tình thể hiện qua cương thường đạo nghĩa làm căn bản cho luật lệ hiện hành.

(2) Xã hội, cộng đồng hay đoàn thể là những tập thể chung sống giữa người và người trên hai bình diện tình và lý.

(3) Muốn sinh hoạt được hữu hiệu, đoàn thể phải được điều hành hợp tình và hữu lý thể hiện qua các nguyên tắc căn bản được các quốc gia chấp nhận về vấn đề tổ chức và quản trị hiệp hội và nhân sự hữu trách phải tuân thủ các nguyên tắc luân lý nghề nghiệp (code of ethics).

(4) Hiện nay tại Hoa Kỳ, cũng như tại các quốc gia tự do, các đoàn thể xã hội, ái hữu, cộng đồng … thường được thành lập theo luật hiệp hội bất vụ lợi (not for profit organization –NPO).  Tuy chi tiết có thể khác nhau, nhưng tổng thể 50 tiểu bang tại Hoa Kỳ có 50 bộ luật riêng về hiệp hội.

(5) Hình thức tổ chức thông thường theo luật lệ hiện hành, hội viên bầu các vị giám đốc vào Hội Đồng Quản Trị (Board of Directors). Hội đồng Quản Trị thường có 3 chức năng chính: Quyết nghị (deliberative), Chấp hành (executive) và Giám sát (oversight).

(6) Cả ba cơ chế, tuy ba mà một, tuy một mà ba, đồng chịu trách nhiệm về sự thịnh, suy của tổ chức, chứ không phải ba cơ chế biệt lập không liên hệ với nhau. Cả ba cơ chế phải cùng nhau quyết nghị về chính sách, chương trình, kế hoạch và phải hỗ trợ cho nhau để thực hiện phần vụ của mỗi cơ chế và toàn bộ chương trình đã đề ra và được chấp thuận.

(7) Khi bầu, hội viên thể hiện sự tín nhiệm và u thác cho các vị giám đốc nhiệm vụ quản trị và điều hành hiệp hội gọi chung là trách nhiệm được tín thác (fiduciary duty).  Sự kiện nhận trách nhiệm được hội viên tín thác đòi hỏi các thành viên hữu trách phải chu toàn nhiệm vụ qua ba tiêu chuẩn hành sự: 

*Cần mẫn: (duty of care):

Chăm lo sinh hoạt của tổ chức trong vấn đề hình thành và cập nhật các văn kiện căn bản; thực thi chính sách, chương trình, phục vụ tổ chức và thành viên như nhiệm vụ đã được quy định trong nội quy với tinh thần thận trọng, cần mẫn, tận tình, và biết tiên liệu để tránh sự bất ổn, phân hóa, gây thiệt hại cho tổ chức và hội viên về tinh thần và vật chất. 

*Trung tín (duty of loyalty): Trung thành với bản điều lệ, nội quy để phục vụ hội viên, bảo vệ uy tín, danh dự và tài sản của tổ chức; không được chiếm công vi tư, vi phạm nguyên tắc quyền lợi tương phản (conflict of interest), không cạnh tranh bất chính (unfair competition) bằng lời nói, hành động; phải tạo sự tín cẩn, tôn trọng và hợp tác giữa các đồng sự, thành viên,  trung thành với danh xưng, tôn chỉ, mục đích.

*Tuân phục (duty of obedience): Tuân giữ các nguyên tắc điều hành nội bộ, luật lệ tiểu bang, liên bang, báo cáo định kỳ về sinh hoạt, tài chính, thuế khoán, nhật tu, tái ghi danh thường niên giấy phép hoạt động theo luật định… cũng nên nói thêm hiện nay các đoàn thể xã hội, tôn giáo thường xin giấy phép hoạt động để hưởng các quy chế pháp định như tự cách pháp nhân, miễn trừ thuế …cũng như các đoàn thể hoạt động không xin giấy phép như một số đoàn thể tranh đấu cho tự do, dân chủ cũng cần hoạt động trong khuôn khổ luật lệ cho phép kể cả  trách nhiệm cần lưu ý đến chính sách ngoại giao của chính phủ sở tại và phải tôn trọng nguyên tắc bang giao quốc tế của quốc gia nơi chúng ta cư ngụ.

Vi phạm các trách vụ nêu trên thường là nguyên nhân của sự bất tín nhiệm, phân hoá, bãi chức, tranh tụng trong sinh hoạt đoàn thể ái hữu, tôn giáo, xã hội cộng đồng, chính trị.  Hy vọng với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính thì mọi sinh hoạt sẽ được chu toàn và hanh thông trong công tác phục vụ phúc lợi chung của tập thể người Việt cư ngụ tại hải ngoại làm nền tảng cho đại cuộc cứu quốc và kiến quốc.  

Tự cổ, triết lý giáo dục đã được minh định:  “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại dĩ ư chí thiện”, thể hiện 3 mục tiêu chính 

(1) Giáo dục phổ thông nhằm làm sáng cái đức tính của mình,

(2) để thân dân, cải tiến dân sinh,

(3) và giúp dân bỏ cái xấu, theo cái tốt. 

Ba cương lĩnh trên được cụ thể hóa bằng sách lược đào luyện để giúp con người trở thành đại trượng phu, mẫu người quân tử, mẫu người lãnh đạo theo quan niệm của  Nho học ( Confucius teachings).

Diễn tiến đào luyện kỹ năng lãnh đạo được tiệm tiến thực hiện qua 8 phương thức:

(1)  Cách vật: tiếp cận và tìm hiểu sự vật; (investigation of things, identify the problem)

(2) Trí tri: để đạt sự hiểu biết thấu đáo cái nguyên lý của sự vật, (extension of knowledge)

(3) Thành ý: Mỗi khi đã hiểu thấu đáo nguyên lý sự vật thì nhận thức được đứng đắn (the will becomes sincere);

(4) Chánh tâm: Khi nhận thức đứng đắn thì tâm tính được chính trực, (the mind is rectified)

(5) Tu thân: tâm ngay thẵng sẽ giúp con người tu sửa chính mình, (the personal life is cultivated)

(6) Tề gia: khi thân đã tu sửa thì đương nhiên gia đạo được hài hòa, ((the family is regulated)

(7) Trị quốc: gia đạo hài hòa thì yên thân giúp cho nước được an trị, (the state put in order)

(8) Bình Thiên hạ: khi mọi quốc gia được an trị thì thiên hạ thái bình.(the peace is established throughout the world).

Thật là một cương lĩnh đào luyện nhân tài tuyệt vời hướng thiện con người về cả hai phương diện đức dục và trí dục. Vì đạo đức lên khuôn cho hành động nên đối với người xưa đức dục quan trọng hơn trí dục, sĩ tử học “đạo trị quốc”. Ngày nay, trong tiến trình Tây Phương hoá, học đường chú trọng đến trí dục, kỹ thuật,  và nhẹ về công dân giáo dục.

Thật ra, quan niệm chính trực về giáo dục thể hiện qua câu danh ngôn: “Cái học khoa cử chỉ là manh áo bên ngoài, là con đường đi vào đạo sống. Nếu không đạt được chính đạo, nghĩa là không phục vụ chân lý, chính nghĩa, quốc gia, dân tộc thì khoa bảng chỉ có hiệu lực trang trí”. 

“Cách vật trí tri, thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” vẫn là ước nguyện chung của tất cả chúng ta vậy.  

Trần Xuân Thời

 

Ghi chú:

"Người lãnh đạo thường là người trí thức sở hữu sự kết hợp của các đặc điểm như sau- Intellectuals typically possess a combination of traits including: 

1-Tính hiếu kỳ: Mong muốn khám phá những ý tưởng và quan điểm mới. (Insatiable curiosity: a desire to explore new ideas and perspectives).

2-Tính hiếu học: Ham đọc sách và học hỏi: Mong muốn thủ đắc kiến thức và tìm hiểu các đề tài khác nhau. (love of reading and learning:  A passion for acquiring knowledge and understanding different subjects)

3- Tính khiêm tốn: Nhận thức được sự giới hạn của trí tuệ và sẵn sàng học hỏi từ người  khác.  (Intellectual humility: Recognizing the limits of one’s knowledge and being willing to learn from others).

4-Tính cởi mở: Sẵn sàng xem xét các quan điểm khác lạ và thách thức niềm tin của chính mình. (open mindedness:  The willingness to consider alternative view points and challenge one’s own beliefs)

5- Tính hoài nghi: Cần có  một chút nghi vấn lành mạnh và đặt giả thuyết. (skepticism:  A healthy dose of doubt and questions of assumptions)

6- Tính đam mê: Nhiệt tình trong việc thảo luận để khám phá các khái niệm trừu tượng. (passion for ideas:  A genuine enthusiasm for discussing and exploring abstract concepts).

7-Tính nhân từ: (Nhân); thương yêu nhân loại. (kindness, esteem, self-esteem, influence others)

8-Tính giúp đỡ: (Nghĩa) hào phóng, giúp đở tha nhân (helps, win over people)

9-Tinh kính nễ: (Lễ) tránh xúc phạm, reverence, respect, prevents being insulted)

10-Tính siêng năng: (Trí), siêng năng, cần mẫn, dẫn đến  thành tưu)  (diligence, lead to great achievements)

11-Tính tin tưởng: (Tín) trung thực, giúp tạo sự tin tưởng, (truthfulness, helps people trust you)

12-Khả năng sáng tạo: Khả năng tư duy sáng tạo và tìm ra những ý tưởng mới. (Creativity:  The ability to think outside the box and generate new ideas)

13- Khả năng bình phẩm: Khả năng phân tích tin tức, lượng giá bằng chứng và hình thành ý kiến. (Critical thinking:  The ability to analyze information, evaluate evidence, and form formed opinions)

14- Khả năng lý luận: Khả năng rút ra kết luận đúng đắn từ bằng chứng. (Logical reasoning: The ability to draw sound conclusions from evidence)

15- Khả năng thông đạt hữu hiệu: Khả năng diễn đạt ý tưởng rõ ràng qua lời nói và bằng văn bản. (Effective communication:  The ability to clearly express thoughts and ideas in writing)

16- Khả năng phân tích: Khả năng phân tích các dữ kiện phức tạp và hiểu các mối quan hệ giữa các thành tố. (Analytical thinking: The ability to break down complex information into small parts and understand relationships

17-Khả năng tổng hợp: Kết hợp những kiến thức rời rạc để hình thành những kiến thức mới. (Ability to synthesize information: Combining disparate pieces of knowledge to form new insights)."